Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận thức. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 6 2024

Thử Phân Tích Chính Sách Qua Các Sự Kiện Đang Diễn Ra Ở Việt Nam

 14.6.2024 - Kim Văn Chính

1. CHUYỆN XƯA

Người Việt mình rất được nể trọng trên TG, ít nhất là thời cách nay trên hai chục năm về trước.

-Tôi di du lịch Indonesia, đi theo kiểu phượt về các vùng quê núi lửa và Bali thấy đụng chạm giới xe ôm , taxi, môi giới chỉ chỏ của Indo nó cũng rất xã hội đen. Tôi thường giơ bàn tay có ngón tay cụt có ý để họ thấy và nói to rằng tôi là lính đặc công từng đánh Mỹ và bắn chết nhiều lính Mỹ… Hiệu quả phết. Chưa lần nào bị họ lừa cả…

-Ở Thái Lan tôi được nghe kể người Việt luôn được các tộc Thái và ĐNA khác nể trọng: họ kể rằng khi xếp hàng xin visa ở Sứ Quán Mỹ Băng Kok, có ông người Việt mới đến cứ chen chen từ cuối hàng , mọi người thấy lạ liền hỏi: anh là người nước nào. Anh chàng đáp: Việt Nam. Vậy là đám người Thái Lan đứng phía trước dạt ra nhường anh ta lên trước. Rồi đám người Philippine, Indo cũng hỏi nhau một hồi rồi cũng dạt ra lễ phép : mời Việt Nam lên làm visa trước đi … Vậy là anh Việt nam ngễu nghện lên hàng đầu để vào làm visa trước sự nể trọng của các công dân ĐNA khác…

-Khi tôi sang Liên Xô để học và đi nhiều nước XHCN khác, ban đầu ở Liên Xô tôi cũng được bọn Liên Xô nó nể trọng: Việt nam hả? Ôi, Việt Nam đánh Mỹ ? Việt Nam anh hùng? Và cứ thế, mình được tung hô, được nể trọng… Và khi xếp hàng mua vé xem phim Mỹ, Pháp (bên đó hồi đó xem phim Mỹ, Pháp mới phải xếp hàng chứ phim Nga rất ít khán giả xem không phải xếp hàng bao giờ), xếp hàng mua bàn là, vải phin… mình là người VN cứ thế mà chen lên hàng đầu…

-Nhưng sang đến Ba Lan, Sec (Tiệp) thì món võ đánh Mỹ không có hiệu lực nữa các bạn ạ. Không gian nể trọng người Việt nó chỉ giới hạn ở Minsk – Brest là hết.

Qua biên giới Liên Xô, tôi thấy người Ba lan, Sec … dù họ rất tốt, lịch thiệp và nhân hậu (nhân hậu hơn cả người Liên Xô nữa), nhưng sự nể trọng có lẽ không có. Đôi lần tôi có nói đến việc Việt Nam đánh Mỹ, không những không được ủng hộ, nể trọng mà còn bị đám thanh niên nó mắng té tát lại ngay: nó bảo: “sao VN chũng mày ngu thế, ngu quá trời ngu luôn. Mỹ là nước mà chúng tao tìm mọi cách để chơi với họ chả được thì chúng mày đi đánh nhau với nó. Còn Liên Xô là nước mà chúng tao ghét như con hủi, chỉ muốn đẩy chúng đi thì chúng mày đang yên đang lành tận xa xôi lại mời Liên Xô nó vào làm bạn bè chiến lược và duy nhất? Điều chua chát làm tôi choáng váng khi thấy bọn Đông Âu nó xỉ vả dân tộc mình hồi đầu làm tôi rất chua chát và suy tư, nhaung mấy chục năm ròi, càng ngày càng thấy họ đúng.

Đến năm 1990 khi Việt Nam ký Hiệp Định Thành Đô, tuyên bố phản đối “cách mạng màu”… thì có một tay bạn người Ba lan còn hùng hổ xấn đến tôi và lớn tiếng trước đám đông: Hắn nói – Tao không hiểu đất nước mày, dân tộc mày là cái đất nước gì, dân tộc gì mà lại ứng xử như trẻ con vậy? Chuyện đất nước chúng mày sau khi thống nhất xà xây dựng kinh tế trong hòa bình 15 năm nay mà vẫn còn đói khổ rách rưới chúng tao có nói gì chúng mày đâu, ngược lại chúng tao vẫn viện trợ đầy đủ… Rồi chuyện hàng triệu người thuyền nhân vựợt biên đường biển bỏ nước ra đi chết đầy biển, gây kinh hoàng Thế giới chúng tao cũng có bêu riếu gì chúng mày đâu? Vậy mà tại sao đất nước chúng tao đang tự giải phóng mình dể trở thành tự do, dân chủ thật sự, những biến chuyển chính trị đang diễn ra nhanh và bất ngờ đến mức chúng tao cũng không nhận thức kịp, vậy mà chúng mày ở tít Hà Nội xa xôi lại biểu tình phản đối cách mạng màu ở nước chúng tao, phản đối công đoàn đoàn kết lên nắm quyền là sao?

2. CHUYỆN THỜI NAY

- Trời nắng nóng 35 độ C, ngoài đường bê tông nhiệt độ có thể lên 45 độ. Nóng như chưa từng nóng như vậy bao giờ.

Vậy mà trước cửa các ngân hàng quốc doanh lớn và SJC, người dân vẫn chen nhau, cần mẫn xếp hàng mua vàng miếng SJC.

Mà nào có phải ai cũng mua được đâu.

Mỗi ngày chỉ bán cho khoảng 1 vài trăm khách hàng thôi…

Họ lại cần mẫn xếp hàng cho ngày hôm sau.

Đêm cũng chờ hàng sợ mất lượt.

Nghe nói nhiều người xếp hàng thuê, mua thuê cho chủ ở đâu đó. Nhưng nhiều người vì lẽ gì đó xếp hàng mua cho chính mình.

Người nước ngoài thấy cảnh đó họ sẽ rất lạ.

Tại sao cái dân tộc này nó khổ thế?

Vàng muốn mua thì sang Lào bán rất nhiều, cũng 4 số 9 luôn,… Sang Thái Lan, Ấn Độ hoặc Dubai còn nhiều nữa, hàng chục tấn cũng OK luôn, chả phải xếp hàng , mà còn được chào đón công kênh vì là khách hàng – thượng đế mua nhiều…

Còn ở Gia lai, huyện IA GRAI, Hiện tượng dân tứ xứ kéo nhau đến rẫy nhà sư Thích Minh Tuệ hàng mấy nghìn người mỗi ngày và ngày càng đông cũng là chuyện lạ dù biết có lực lượng an ninh chìm nổi ngăn cấm .

Số là dân các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào Huế đã từng chứng kiến sư Minh Tuệ khất thực với đoàn tăng ni tự nguyện đi theo đông dần lên mấy chục vị.

Nhưng dân đang hào hứng, như đang vui bị đứt dây đàn (Chính quyền can thiệp bắt sư Minh Tuệ về quê Gia Lai), mục đích giải tán đám đông.

Dân các tỉnh phía trong như Quảng nam, Phú Yên… chưa được diện kiến ngài…

Và khi thấy ngài đang ở quê Gia Lai, họ lũ đàn kéo nhau lên diện kiến…

Người nước ngoài thấy cảnh hàng ngàn người săn đón ngài ngòai đường nhựa nóng như thiếu như đốt thấy rất lạ.

Tại sao người VN khổ vậy?

Sư Thích Minh Tuệ dù có nổi tiếng và hấp dẫn công chúng đến mấy thì nếu hàng ngày đi khất thực lưu động như vậy ở Lào với tâm nguyện tu theo 13 hạnh đầu đà như vậy, chắc chắn ngài sẽ được người dân đón tiếp bình thường như ngài mong đợi, không gây ầm ỹ và chen chúc đông người xin đảnh lẽ và bố thí nhiều đông như vậy. Đó là điều chắc chắn.

Ngài sang Thái Lan, Myamar, Ấn Độ hay Tây Tạng càng như vậy.

Còn nếu ngài sang Paris, Berlin, London thì cũng có đường quốc lộ không cấm người đi bộ đi bộ hành cho ngài đi, nhưng e rằng ngài sẽ phải thay đổi phương thức nhận đồ bố thí vì bên châu Âu ít người quan tâm đến các sự kiện có tính đạo phật như vậy và tôi tin là ít người hiểu được lễ nghi cúng dường cho sư bằng gì và phương thức gì,,,,

Nói chung là ngài muốn tu hành sẽ được tu hành theo cách thức ngài muốn mà không ai ngăn cản. Và xã hội không bị xáo trộn tạo ra đám đông hàng ngàn, hàng chục ngàn người đi theo ngài tạo ra cảnh mất trật tự chen lến xô đảy như ở VN…

3. TẠI SAO DÂN TỘC VIỆT NAM KHỔ VẬY?

-Vậy dân tộc Việt nam sướng hay khổ?

-Dân tộc Việt Nam đáng được nể trọng hay phải được góp ý?

Câu trả lời tôi cho là đã rõ.

-Tại sao dân tộc Việt Nam khổ như vậy?

-Nỗi khổ của quá khứ dẫu sao nó cũng qua đi rồi (thuyền nhân nhiều người bây giờ là tỷ phú). Nhưng nỗi khổ của hiện tại có chua chát không?

-Tại sao giàu rồi mà vẫn khổ khi chen chúc nhau trời nắng để mua vàng ?

-Tại sao có “tự do tôn giáo” rồi, chùa chiền có ở khắp nơi, thầy chùa đông như kiến rồi, chức sắc đạo phật rất đông và nhiều rồi, khắp nơi đều có mà người dân vẫn như nghiện khát thuốc, khao khát chiêm ngưỡng, được “đảnh lễ “ 1 lần với một ông sư nhỏ bé chưa dám tự gọi mình là sư là Thích Minh Tuệ?

XÃ HỘI ĐANG THIẾU CÁI GÌ ĐÂY?

CÁI GÌ?

Bình luận của Kim Dung Pham

Nói vậy tôi đọc bài này đau xót tâm can. Ng Việt đi đâu cũng bị ghét. Ng Lào mộ Phật hiền hoà mà họ cũng ghét. Đừng nói dân Nga, ng Việt mua bán họ khinh khỉnh ra mặt/ đừng nói là anh em xhcn nhé. Ng Việt nên tự trách mình thôi. Đi đâu cũng chen lấn. Nói thì rất to, mở miệng là đù mẹ đù cha. Thứ văn mình xa lạ trong con mắt nhiều QG

10 tháng 6 2024

Sư Minh Tuệ - Một Biểu Tượng Thiện Lương Trong Nghệ Thuật

08.6.2024 - Nguyễn Thanh Huy

NguyenThanhHuy-01-08

Từ nghệ thuật, có những nhân vật bước ra đời sống. Từ đời sống, cũng có vài con người đi vào nghệ thuật. Nhưng trở thành hình tượng trung tâm, biểu tượng cho sự thiện lương tuyệt đối, không gợn chút bụi trần, có lẽ ngoài Đức Phật, là sư Minh Tuệ.

Nói như vậy, không phải là để so sánh hay nâng tầm, thánh hoá, Phật hóa sư Minh Tuệ. Mà đây là một sự thực đang diễn ra ngay lúc này trong đời sống nghệ thuật đương đại.

Phẩm cách và giới hạnh của ông đã khiến bao trái tim rung lên những cảm xúc triền miên khó tả. Thân hành và bước đi của ông đã khiến cho người ta phải suy nghĩ về cuộc đời. Cuộc sống này có ý nghĩa gì? Thế nào là hạnh phúc? Hàng loạt câu hỏi cứ hiện lên trong những khối óc biết suy tư. Dường như, có một sự đảo lộn trong những nhận thức đã có trước đó.

Người đời cứ chạy theo cuộc sống, bị nó quay cuồng, nó nhấn chìm chúng ta vào vòng xoáy danh lợi, tiền bạc; được mất, hơn thua. Thế rồi, khi người ta có trong tay tất cả những thứ mong ước ấy, là lúc nhận ra mình bất hạnh. Niềm vui chẳng thấy mà chỉ thêm phiền não, bất an. Lại có người tự dối lòng, rằng mình luôn thanh thản. Kỳ thực, đó chỉ là sự trấn an do sự thanh thản ấy đang thiếu vắng ở trong lòng.

Và có một thời, người ta nói về hạnh phúc nghe có vẻ triết lý, rằng “hạnh phúc là đấu tranh”. Nghe hay và có lý lắm. Nhưng có lẽ quan niệm này được chấp nhận do suốt một thời con người phải sống trước những lựa chọn, lựa chọn sinh tồn, lựa chọn tư tưởng, lựa chọn giai cấp…

Đến khi sư Minh Tuệ xuất hiện, người ta mới nhận ra, hạnh phúc là buông, hạnh phúc là khi không có gì. Sư Minh Tuệ không phải là người “phát kiến” ra điều này nhưng chính ông là người tiêu biểu hiện thực hóa điều này; ông như một minh chứng sống động và cụ thể cho những tư tưởng, triết lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết cách đây gần 2600 năm.

Đó là lí do ông trở thành nguồn cảm hứng bất tận, làm nên những xúc cảm mãnh liệt, cứ lớn dần và đi tiếp trong tâm hồn của người nghệ sĩ. Không chỉ có vậy, ông đã nhen nhóm tình yêu thương trong tất cả những người mà trước đây không mấy quan tâm đến tha nhân và hiện thực cuộc sống; thôi thúc họ phải viết về ông, phải bộc lộ những tâm tư về ông, như một cách giải tỏa, giải thoát những điều được giấu kín trong thế giới nội tâm của họ bấy lâu nay, cho dù viết có vụng về hay vấp váp, điều đó không mấy quan trọng.

Ông đã cộng hưởng lòng bi mẫn vào những trái tim vốn đã giàu lòng nhân ái khiển họ thêm thổn thức, dâng trào những xúc cảm êm đềm, trong mát, ngọt ngào.

Và như thế, người viết văn, kẻ làm thơ. Lời hay ý đẹp cứ tuôn trào tạo thành những dòng chảy len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Hàng trăm bài luận, hàng ngàn bài thơ và còn nữa. Có lẽ cũng mới là sự bắt đầu.

Nghệ thuật đâu chỉ có văn chương, hội hoạ cũng không thể đứng ngoài cuộc trước cơn gió thiện lành. Sức lan tỏa của lòng từ bi, của hương đức hạnh đã làm nên bao bức tranh tuyệt mĩ. Tôi thật sự ấn tượng trước những bức họa này! Mỗi tác phẩm là một cảm xúc, một thế giới rất riêng của người nghệ sĩ, và cũng chẳng giống nhau trong tâm người thưởng thức. Phải thừa nhận rằng dường như chính cái cà sa y phấn tảo của sư nó như rất hợp với hội hoạ, nó như miền đất màu mỡ để những họa sư thỏa sức mà canh tác, cải tạo, trình diễn tài năng của mình. Thật thích thú và khâm phục!

Và thời trang, họ cũng không chịu đứng im, họ đã lên tiếng bằng hàng loạt kiểu mẫu mang màu sắc, phong vị của y phấn tảo. Nói chính xác hơn, nghệ thuật này càng có nhiều cơ hội để diễn trình. Bỏ qua yếu tố thương mại và lợi nhuận, thì chính thời trang đã khiến y phấn tảo bay xa hơn, cao hơn. Nó đã có mặt trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Rõ ràng, đó chính là thông điệp giá trị, ý nghĩa mà chỉ có sư Minh Tuệ mới mang lại được.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một luận điểm quan trọng trong tu Phật, đó là “tu là bỏ tất cả, bỏ tất cả là được tất cả, được tất cả là không được gì hết”(*).  Rõ ràng, sư Minh Tuệ chính là hiện thân của triết lý cao thâm này, vì tâm ông đã đạt trạng thái như vậy.  Vô cầu, vô trụ, vô chấp.

Một chữ, BUÔNG !

Chú thích:
(*) “được tất cả là không được gì hết”: tức hoàn toàn thanh tịnh, không chấp trước bất cứ điều gì.

@ Hình các tác phẩm hội hoạ: mượn từ trên mạng. Mong các họa sĩ sáng tác lượng thứ.

Nha Trang, 08/06/2024
Nguyễn Thanh Huy

Đăng trên Thư Viện Hoa Sen:
https://thuvienhoasen.org/.../su-minh-tue-mot-bieu-tuong...

Hương Đức Hạnh Không Ngừng Bay Xa

05.6.2024 - Nguyễn Thanh Huy

NguyenThanhHuy-01-06

Cho tới hôm nay, “hạnh đầu đà” không còn là cụm từ xa lạ. Nhắc đến nó ta sẽ nghĩ ngay đến sư Minh Tuệ, mặc dù ông không phải là người thực hành hạnh này đầu tiên và duy nhất.

Điều gì làm nên một liên tưởng mặc định như vậy?

Vì hạnh tu này quá khó, không mấy ai làm được, và trong cái thời buổi mạt pháp này nó là thứ gì đó xa lạ, lập dị, kì quái. Nên sự xuất hiện của sư Minh Tuệ đã khiến hạnh đầu đà như là pháp tu của riêng ông.

Nhìn lại lịch sử, ngay thời Đức Phật tại thế, pháp tu này có không ít người thực hành, nhưng không phải ngẫu nhiên mà đại đệ tử Ca Diếp được gọi là “đệ nhất đầu đà”, nghĩa là chỉ ông mới thực hành một cách nghiêm trì và đầy đủ nhất.

Lịch sử Phật giáo trải dài gần 2600 năm, tất nhiên đã từng có không ít cao tăng, thánh tăng chọn lựa con đường này và đạt được thành tựu viên mãn.

Nhắc lại để minh định rằng không nên nhầm lẫn giữa hạnh đầu đà mà sư Minh Tuệ đang hành trì là giống với cách tu của các nhà sư thuộc phái Khất Sĩ ở miền Nam trước 1975, hay những tu sĩ thuộc phái Nam Tông bây giờ. Giữa họ có một số điểm chung ở các pháp hành và giữ gìn giới hạnh. Nhưng ở sư Minh Tuệ, ông mới là người thực hành nghiêm mật và rốt ráo tất cả 13 hạnh đầu đà ấy. Đó là lý do vì sao người ta kính trọng, ngưỡng vọng ông, đặc biệt ngay trong giới tăng ni hoặc những bậc cao tăng đức độ cũng phải tán thán. Vì sao vậy? Vì họ rõ hơn ai hết, ở thời điểm hiện tại, ông là duy nhất. Cho nên, cần hiểu cho đúng, sức hút của ông, sự lan toả của ông là do chính giới hạnh mà ông đắc được, chứ không phải là nhờ truyền thông và mạng xã hội (tất nhiên họ cũng có phần trong đó).

Vẫn có một số người đánh đồng, việc tu như sư Minh Tuệ cũng đang có đầy ở các nước Phật giáo Nam truyền, như Thái Lan, Campuchia, Miến Điện… Xin thưa, điều này không đúng. Ở các nước ấy họ tu thì cũng không khác mấy những tu sĩ Nam Tông ở Việt Nam. Có điều họ đông hơn, mạnh hơn, vì Phật giáo nước ta theo Đại thừa là chủ yếu.

Tôi có tham khảo qua một số tu sĩ mà họ đã đi qua nhiều nước trên thế giới, họ kết luận rằng như sư Minh Tuệ là rất hiếm. Đặc biệt, khả năng bộ hành đầu trần chân đất đi trên đường nhựa với sức nóng - bỏng da cháy thịt, có lẽ sức chịu đựng đó là vô đối. Nên nhớ, so với thời Ca Diếp đi khất thực, khi ấy chắc chắn không có đường nhựa, chỉ là đường đất và cây cối xanh tươi, bóng mát rất nhiều. Rõ ràng sư Minh Tuệ đã rèn luyện được một thân kim cang để có thể hành cước liên tục, mà trên nét mặt vẫn luôn bình thản, an lạc.

Như vậy, thực hành được hạnh đầu đà là một sự phi thường. Cho nên không gì ngạc nhiên khi sư Minh Tuệ được đánh giá là “một tu sĩ kiệt xuất nhất” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam (1). Ngoài ra, cũng bởi hình ảnh của sư đã khiến bao người tỉnh thức, lột mặt bao kẻ dối gian, và nhiều người đã buông bỏ tất cả mà bước theo ông trên con đường cao thượng này.

Từ một hạnh đầu đà cứ thế đã có 72 hạnh đầu đà (2). Ta chưa bàn đến việc 71 hành giả kia có đủ căn cơ, ý chí để đi đến hết con đường hay không. Hoặc giả 71 vị ấy sẽ có bao nhiêu đầu đà đắc đạo. Việc đó không quan trọng, vì đâu phải cứ tu là đắc, cũng như thực tế ngày nay có bao nhiêu tu sĩ, bao nhiêu chùa chiền mà có thấy vị nào đắc quả được đâu! Cho nên, chỉ cần họ dám lựa chọn hạnh tu này đã là một sự dũng cảm hơn người.

Thế giới tìm một đầu đà đã hiếm trong khi đất nước ta lại có cả một đoàn tăng hạnh đầu đà. Vậy, điều này không đáng để Phật giáo Việt Nam tự hào với thế giới hay sao?

Có thể nói, hiện tượng này là hi hữu, khiến âm vang các nẻo, rúng động chư thiên, vì ngay cả khi Đức Phật còn tại thế cũng không có đầu đà đông như vậy!

Trớ trêu thay! Họ không lấy đó làm tự hào mà ngược lại họ không vui, lo lắng, bất an.

Thế là đoàn đầu đà phải bị chấm dứt. Có lẽ, nếu không có bước đi này đoàn tăng ấy sẽ còn tăng thêm mỗi ngày và con số là không ai có thể biết trước. Khi ấy không biết thế giới nhìn vào chúng ta với con mắt như thế nào đây?

Khi họ bị chặn đứng, chia tách, giải tán, đó là thời khắc u ám, ảm đạm với tất cả những người mộ đạo và lương thiện. Nhưng lập tức, như một tia sáng lóe lên khi mà những con người ấy rải đi khắp nẻo tìm nhau, cũng là lúc hạnh đầu đà xuất hiện mang theo hạt giống bồ đề rải khắp nơi nơi, và một lần nữa hương đức hạnh được lan xa, bay cao.

Chỉ cần thấy một vị đầu đà người ta sẽ nhớ ngay về sư Minh Tuệ, và chỉ như thế người ta đủ biết người tu là như thế nào - người tu không cần ăn ngon mặc đẹp, người tu càng không được giữ tiền bạc. Khi đó các giá trị chân - ngụy, chánh - tà, thiện - ác, tự khắc lộ rõ. Và chúng Phật tử sẽ tự biết họ phải làm gì.

Chưa dừng lại ở đó, sức mạnh của hạnh đầu đã như đã ăn sâu vào tâm thức mỗi người, nên ngay cả khi không gặp một vị đầu đà trước mặt mà chỉ cần nhìn thấy vài miếng vải rách, vải nhiều màu thì cũng đủ khiến họ nhớ về một đầu đà Minh Tuệ. Đây cũng chính là giá trị tỉnh thức mà ông đã mang lại, một khi nó đã gieo vào đầu thì không một quyền lực nào có thể tẩy trắng đi được.

Vậy nên, cho dù ông có bước đi hay dừng lại, cho dù những huynh đệ kia có tìm thấy nhau hay tan rã; thì sự tỉnh thức vẫn không thể quay đầu, nó sẽ tiếp tục hành trình, nó phải hoàn thành sứ mệnh; và đến một lúc nào đó ta lại thấy hạnh đầu đà sẽ có ở muôn nơi, có lẽ cũng sớm thôi!

————

P/s: Hôm nay sét ở bầu trời Hà Nội cả ngàn cơn. Hi hữu. Kẻ vô thần lại thường hay sợ hãi, người tín thần thì đã có đức tin. Xưa nay thiên nhân cảm ứng, người xưa dạy chớ có nghi ngờ.

NguyenThanhHuy-01-07

———-

Chú thích:

(1) Trong Thông bạch của GHPGVNTN

(2) Ngay cả trong số đó nếu có vài vị giả tu.

————

Nha Trang, 05/06/2024

Nguyễn Thanh Huy

———-

Đăng trên Thư Viện Hoa Sen:

https://thuvienhoasen.org/.../huong-duc-hanh-khong-ngung...

05 tháng 6 2024

Vai Trò Của Ngài Thích Minh Tuệ Trong Xã Hội Chúng Ta

05.6.2024 - Võ Xuân Sơn

Có bạn nói: “Từ khi Sư Thích Minh Tuệ xuất hiện, thì dân mạng cũng “buông bỏ” hơn, ít chửi các ông Thích Việt Á, Thích Giải Cứu, Thích Thủ Thiêm, Thích Vạn Phát…”. Lại cũng có người nói, ai cũng đi tu, thì lấy đâu ra người trồng lúa, dệt vải…

Mặc dù những lời nói này bị cư dân mạng phản đối, nhưng suy cho cùng, thì những điều mà người ta nói đó vẫn có phần nào đúng. Đúng hay không thì cần nhìn nhận về mặt xã hội. Trong một xã hội nguyên thủy, tự cung tự cấp, mỗi người, hay mỗi quần thể nhỏ, như bộ lạc chẳng hạn, phải tự kiếm sống, thì việc đáp ứng nhu cầu bản năng, chủ yếu là miếng ăn, trở nên quan trọng nhất. Thời đó, ai không tạo ra miếng ăn, người đó là vô dụng.

Nhưng xã hội con người tiến hóa lên. Miếng ăn, tấm che thân chỉ còn được coi là nhu cầu tối thiểu. Nhu cầu vật chất của con người đã vượt rất nhiều lần miếng ăn với tính bản năng. Nhưng khi vật chất đầy đủ cho nhu cầu bản năng, con người ta lại có những nhu cầu khác, trong đó có nhu cầu thể hiện mình. Người ta thích được công nhận, thích được khen, thích tỏ ra vượt trội.

Từ cái nhu cầu được thể hiện mình đó, mà nhu cầu về vật chất thay đổi. Cũng là miếng ăn bỏ vô miệng, nhưng nó phải được chế biến cầu kì, với bao nhiêu gia vị, thậm chí được dát vàng, rồi có người đút cho ăn. Cũng là nơi trú mưa nắng, nhưng nó phải nguy nga, lộng lẫy. Cũng là cái để giữ hơi ấm, nhưng nó phải kiểu này, màu kia, nhãn hiệu này khác… 

Do những nhu cầu vượt lên trên nhu cầu bản năng kia càng ngày càng lớn, con người ta được sinh ra càng ngày càng nhiều, nên tổng thể của cải, vật chất không thể đáp ứng được cho mọi người. Khi đó, xã hội sẽ phân chia số của cải vật chất không đồng đều cho mọi người. Đã gọi là nhu cầu, thì dù cho đó không phải là nhu cầu thiết yếu, thì ai cũng muốn nhu cầu của mình được đáp ứng, cái đó gọi là lòng tham. Từ đó sinh ra sự chiếm đoạt. 

Người ta bảo kẻ mạnh sẽ chiếm đoạt được nhiều hơn. Sự chiếm đoạt của kẻ mạnh làm giảm đi nguồn vật chất cho những kẻ kém mạnh hơn. Thậm chí, một số người yếu thế nhất còn không có vật chất để đáp ứng được nhu cầu tối thiểu để tồn tại của họ. Từ đó sinh ra chém giết, chiến tranh… 

Để điều hòa được giữa nhu cầu và sự thụ hưởng, giữa nhóm người này và nhóm người khác, giữa các cá thể này với cá thể khác, người ta đưa ra những luật lệ. Trong bất cứ xã hội nào, khi đặt ra luật lệ, thì những kẻ mạnh sẽ có nhiều quyền để luật lệ có lợi cho mình hơn. Chính lòng tham đã can dự vào, và tạo nên việc làm cho luật lệ không công bằng.

Đạo đức chính là thứ có thể khống chế lòng tham, làm cho xã hội trở nên cân bằng hơn. Đạo đức xã hội chính là thước đo sự tiến hóa của một xã hội.

Tôn giáo là phương tiện để duy trì đạo đức xã hội. Tất cả các tôn giáo phổ biến đều hướng đến Chân, Thiện, Mĩ, nền tảng cơ sở để phát triển đạo đức xã hội. Tùy theo từng nơi, mà tôn giáo có giữ được chức năng mang lại Chân, Thiện, Mĩ cho xã hội, hay bị lũng đoạn để trở thành công cụ phục vụ cho lòng tham của một nhóm kẻ mạnh trong xã hội.

Mặc dù bây giờ, so với mấy chục năm trước, chúng ta có nhiều của cải vật chất hơn. Mức sống bây giờ cao hơn hồi trước rất nhiều. TPHCM bây giờ nhà cao cửa rộng, nhiều xe sang hơn so với Sài Gòn Hòn ngọc viễn đông xưa kia rất nhiều. Nhưng con người ta vẫn không vui, vẫn hoài niệm. Đó chính là do chúng ta đang thiếu một nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh.

Vì thiếu nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh đó, nên mới có những vụ án như vụ “giải cứu”, vụ “Việt Á”, mới có hàng đống quan chức ăn tàn phá hại, phá nát đất nước. Chính vì không có gì khống chế lòng tham, nên mới có một Trương Mỹ Lan dù có vô số tài sản, hàng núi tiền, nhưng vẫn tìm cách lừa đảo, chiếm đoạt tiền của bá tánh…

Người Việt Nam chúng ta đang khát khao Chân, Thiện, Mĩ, khao khát một nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh. Chính vì vậy mà khi biết đến Ngài Thích Minh Tuệ, người đã thể hiện được Chân, Thiện, Mĩ của tôn giáo, người dân, bất kể thuộc tôn giáo nào, đã nhanh chóng chấp nhận và yêu mến ông.

04 tháng 6 2024

Bước Chân Dừng Lại, Con Đường Vẫn Đi

03/06/2024 - Nguyễn Thanh Huy

Sư lăn tay làm căn cước.

Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến một sự kiện kỳ lạ đến như vậy! Một cá nhân, một con người nhỏ bé đã khiến cho hàng triệu ánh mắt dõi theo từng bước, hàng triệu khối óc suy tư lo lắng cho số phận, và hàng triệu con tim vỡ oà cảm xúc khi biết sư vẫn bình an.

Nhìn lại, hành trình của sư Minh Tuệ cứ như một cuốn phim, nó bắt đầu im ắng, chậm rãi, rồi tăng dần, đẩy lên cao trào, và kết thúc một cách đột ngột. Tuy nhiên, cái kết thúc ấy chỉ lả sự chấm dứt cho những bước chân rong ruổi trên khắp các nẻo đường và kéo theo đó bao sự nhốn nháo, thị phi của trần thế.

Có lẽ, lựa chọn này không phải bởi ý nguyện của sư, nhưng nó cũng là cách khả dĩ duy nhất và hài hoà cho tất cả. Điều mà mọi người được an ủi, nhẹ nhõm là khi đã nhìn thấy những hình ảnh xác tín về sự hiện diện của sư, rằng họ vẫn còn đó một đầu đà Minh Tuệ. Nếu điều tồi tệ nhất xảy ra, chúng ta sẽ có một mất mát quá lớn, một tiếc nuối vô hạn và một tổn thương khó nguôi ngoai.

Đứng trước những lựa chọn, chúng ta sẽ chọn lựa cách tốt nhất; đứng trước những ngã rẽ chúng ta sẽ chọn lối đi  bình an. Đó là bản năng của lí trí. Sư Minh Tuệ, dù với giới hạnh sâu dày có thể khuất phục tất cả, hay với tâm tịch tịnh vô úy trước mọi hoàn cảnh thì cũng đành phải tùy duyên mà hành trên bước đường tu còn lắm xa xăm.

Hiểu cho cùng cho sâu, tất cả đều có nhân duyên, việc gì đến sẽ đến, việc gì đi sẽ đi. Còn duyên thì tụ, hết duyên thì tán. Kết thúc của cái này sẽ là khởi đầu của cái khác. Những bước chân dừng lại nhưng con đường đi vẫn phía trước. Nghiệp tu, ý nguyện vẫn còn đó, sư có thể buông tất cả nhưng con đường cầu đạo nhất quyết sẽ không buông. Có lẽ trong họa có phúc, từ đây sư sẽ có đủ không gian tĩnh lặng để tinh tấn hành trì, tập trung tâm trí hành thiền để có thể tiến nhập vào định mà đạt trí huệ viên mãn.

Điều quan trọng nhất, không phải sư sẽ bước đi nữa hay không, mà là những bước đi của sư đã làm nên một cuộc tỉnh thức kì vĩ. Người ta đã chợt nhận ra mình mê lạc, người ta kịp nhận ra mình bị lừa dối; người ta đã biết yêu người, và người ta đã biết đâu là hạnh phúc. Sư như ánh sáng xua tan màn đêm,  như cơn mưa rào gột rửa, cuốn phăng những bụi trần.

Sự xuất hiện của sư mang lại thật nhiều cảm xúc và những lợi lạc “không thể nghĩ bàn”. Nên giờ đây, sư có bước tiếp hay dừng lại thì con đường ấy vẫn mở ra phía trước, dẫn  lối cho tất cả những ai có tấm lòng cầu đạo tầm pháp.

Cuối cùng, tôi cầu mong sư thực sự được bình an và sớm thành đạo - đắc quả vị Phật, như ý nguyện một kiếp nhân sinh.

———

Nha Trang, 03/06/2024
Nguyễn Thanh Huy

THẨT THẬP NHỊ HIỀN

Sau khi 72 hành giả bị chia nhỏ, giờ hạnh đầu đà đã xuất hiện khắp nơi nơi. Như vậy chẳng phải là cách gieo hạt giống lành càng nhanh, càng mạnh hơn đó hay sao?

Con số 72 thật ngẫu nhiên trùng với 72 phép thần thông của Tôn Ngộ Không.
Trong hoạ có phúc, trong bi có hỷ, trong khổ có lạc. Vạn vật xoay vần, biến hoá khôn lường.
Duyên !

——-
Nha Trang, 04/06/2024
Nguyễn Thanh Huy

31 tháng 5 2024

Những Suy Nghĩ Không Rời Rạc

28.5.2024 - Huy Đức

I. TINH THẦN PHÁP QUYỀN ĐÃ CHẾT

Sáng qua, một vị tướng lão thành từng giữ một vị trí đầy quyền lực trong ngành công an điện thoại nói chuyện rất lâu sau khi đọc bài của tôi. Ông cho rằng, nếu như tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền từng thắng thế trong thập niên 2000s thì nay, tinh thần đó đã bị bóp chết.

Trước Hiến pháp 1992, nhà nước của chúng ta là nhà nước chuyên chính vô sản. “Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền”. Cho dù không tuyên bố thì sau Hiến pháp 1992, từ hình luật, dân luật cho đến các luật chuyên ngành khác đều được Việt Nam xây dựng trên tinh thần hướng tới nhà nước pháp quyền. Đặc biệt, Quốc hội đã phải sửa hàng trăm điều luật cho tương thích dần với các quốc gia mà ta làm ăn với họ [BTA với Mỹ, WTO…].

Những nỗ lực này kết thúc từ 2006 và những gì ta đang chứng kiến cho thấy, hồn ma “pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền” đang dần hiện về.

II. ĐỨC TRỊ HAY PHÁP TRỊ

Ngày 14-4-2016, tôi viết:

Hiến pháp 1992, tuy còn dùng dằng giữa "hai con đường" đã vẽ cho Việt Nam một nền cộng hòa trên giấy. Ngay cả những tổng bí thư bị coi là bảo thủ nhất như Đỗ Mười hay Lê Khả Phiêu, sau Hiến pháp 1992, cũng đã phải chuyển dần từ một chế độ đảng trực trị sang một chế độ đảng cầm quyền thông qua nhà nước.

Việc tái lập các ban Đảng thời ông Nguyễn Phú Trọng là một bước lùi về chính trị. Sinh thời, Nguyễn Bá Thanh là một người rất được công chúng tung hô nhưng nếu những người am hiểu nhà nước pháp quyền biết cách ông Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh ngồi sau cánh gà các phiên tòa "lãnh đạo án" như thế nào chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng.

Chống tham nhũng bằng Ban Nội chính [và các ban đảng] thay vì gỡ bỏ "vòng kim cô nội chính" cho các cơ quan tư pháp, để họ tiến hành tố tụng theo các nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, thì không chóng thì chày sẽ có Ba X tân thời thay cho Ba X cũ.

…..

Những người biết chuyện cung đình đánh giá cao sự giữ gìn của ông Nguyễn Phú Trọng và vợ con ông [ít nhất là cho đến nay]. Nhưng, quản trị quốc gia [trong đó có chống tham nhũng] phải bằng thể chế chứ không thể trông chờ vào "tấm gương đạo đức" của một vài cá nhân hay việc bắt bớ, loại bỏ một vài con sâu chúa.

Tuy cảm phục mức độ liêm chính, về mặt vật chất, của ông Nguyễn Phú Trọng, dân chúng vẫn chưa thấy các dấu hiệu chứng tỏ sẽ có "đổi mới II" trong nhiệm kỳ cuối của ông. Nếu cho đến ngày nghỉ hưu, ông không đưa ra được một lộ trình chính trị để đất nước dân chủ hơn, sự sạch sẽ của ông sẽ là vô nghĩa.

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/pfbid037Whwpw9JweEF1BktCNizeRJoYncFx1mxr4pEibfHQ7P2PM2yZ9w6WddahkLnzQnAl

III. ĐƯỜNG XA PHẢI NGHĨ NỖI SAU NÀY

Trong bài CÔNG LÝ post ngày 28-5-2015, tôi đã viết:

Đừng sợ mất vai trò của Đảng. Một đảng tốt là một đảng đảm bảo có một hệ thống tư pháp có thể cung cấp công lý chứ không phải là một đảng khi muốn thì thọc tay vào vụ án. Các tướng lĩnh cũng không nên cố công bảo vệ đặc quyền cho công an. Quan nhất thời. Hãy nhìn gương tướng Quắc, tướng Trần Văn Thanh. Rất có thể có ngày quý vị trở thành nạn nhân của hệ thống tư pháp mà quý vị đang thiết kế.

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/821267307908452

Tất nhiên, cũng như nhiều trường hợp khác, ý kiến của thường dân như chúng ta, thường rơi vào hư không.

IV. HIỆN TƯỢNG THẦY THÍCH MINH TUỆ

Tuy nhiên, vị tướng sáng qua gọi điện cho tôi nói rằng, ông không quá bi quan vì những ngày gần đây, ông dành khá nhiều thời gian theo dõi hiện tượng thầy Thích Minh Tuệ. Theo ông, cái tốt luôn được nuôi dưỡng và khi đạo đức xã hội tưởng như đã mục ruỗng những nhân tố như thầy Thích Minh Tuệ sẽ xuất hiện [không chỉ trong tôn giáo].

V. TỪ HIỆN TƯỢNG THÍCH MINH TUỆ NHỚ LÊ QUANG THUNG & BẮC HÀ

Những người nắm quyền lực quốc gia thì phải nghĩ đến muôn dân chứ không phải thu vén cho mình hay cánh hẩu.

Phải tích đức thì mới có thể hưởng phúc. Phúc có 6, 7 thì cũng chỉ nên hưởng 5; hưởng hết thì con cháu không còn mà hưởng quá thì đời mình phải trả. Khi nhiều quyền lực nhất hay nhiều tiền bạc nhất mà chỉ cậy quyền, cậy tiền thì cũng coi như đang làm những việc thất đức, tổn phúc là điều không tránh khỏi.

LÊ QUANG THUNG

Mấy hôm nay, tôi cứ phải suy nghĩ tới trường hợp của ông Lê Quang Thung. Ông lại bị bắt khi vừa mới ra tù ít lâu và nay đã 78 tuổi [Năm 2019, ông Lê Quang Thung đã nhận án tù 4 năm].

Ông Ba Thung với ông Mười Rua là hai “đại ca” của ông Ba Dũng. Họ thân nhau ở trường Đảng khi đó Nguyễn Tấn Dũng đang là một sĩ quan được đưa đi đào tạo nguồn, còn Ba Thung và Mười Rua đã tiếng tăm lừng lẩy. Sẽ không có Trương Mỹ Lan và SCB nếu không có những cuộc gặp ở nhà Mười Rua. Ba Thung cũng sẽ có những ngày cuối đời giàu có thanh bình nếu không phải là đại ca của người từng quyền lực nhất.

Khi lên Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định, cán bộ cứ đúng 60 tuổi là hưu trí. Và người bị ông ta cho hưu trí đầu tiên là tướng Quắc, khi ấy, tướng Quắc đang là Trưởng ban chuyên án PMU18. Nhưng, ngay sau khi cho tướng Quắc nghỉ hưu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký tái bổ nhiệm ông Thung làm Tổng Giám đốc tập đoàn Cao Su dù năm ấy ông Thung đã 60 tuổi.

Ông Thung sau đó đã loại bỏ một người phó trưởng thành kỳ cựu ở đây, hạ bệ đương kim Chủ tịch là một người trẻ hơn mình. Và, khi một thứ trưởng được cử vào kiêm chủ tịch, Ba Thung cũng đã khiến ông phải xách cặp về.

Tất cả những việc làm sai trái, không chỉ tự kết thúc cuộc đời mình trong lao lý mà còn đưa rất nhiều thuộc cấp vào tù, đều được Ba Thung thực hiện trong thời gian nhận ân sủng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, kéo dài tuổi hưu thêm 6 năm.

BẮC HÀ

Tôi viết ngày 9-8-2017

Trong bức ảnh này (Bogaya, Ấn Độ), khi xếp bằng dưới gốc bồ đề nơi được cho là phật tổ từng ngồi, Bắc Hà (phải cùng) là người duy nhất có dáng điệu rúm ró khác thường. Đây là giai đoạn mà ở quốc gia này, Bắc Hà chỉ "dưới Ba Dũng" và hách dịch với phần còn lại, vậy nhưng khi đối diện với thần linh nhìn ông ta vô cùng sợ hãi.

Không chỉ có Bắc Hà, rất nhiều quan chức tối cao cứ sắp bước chân ra khỏi nhà là thỉnh ý các thầy tâm linh, đổ không biết cơ man nào tiền để xây chùa, xây đền... Họ nên đọc lại "Chuyện Thủ Huồng" để thấy rằng, khi sợ trời phật thì cách tốt nhất là ngưng làm điều ác để bắt đầu các việc thiện. Đừng vì tâm quá hoảng loạn mà vội vàng truyền bá cái văn hóa hối lộ trần tục đến cõi thiêng liêng: vẫn thỏa sức vơ vét của dân rồi mong gỡ tội bằng cách cuống cuồng mua trời, bán phật.

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/pfbid0HSnsdDXh7tCMufbzxmLeZU9WfPjjYEBa4CmJbSPuc2DJiT38DeCUioYqqAJXVzhtl

HuyDuc-01-11

30 tháng 5 2024

Một con người xuất hiện mà làm lộ ra bao nhiêu điều

Thứ Năm, 05/30/2024 - 13:42 — Song Chi

Ảnh của songchi

Sư Minh Tuệ, một người 6 năm qua lặng lẽ thực hành lối tu khổ hạnh (Hạnh đầu đà)-- ngày ăn một bữa, áo mặc là những mảnh vải rách vá lại với nhau, đêm ngủ ngồi ở gốc cây, nghĩa địa, ngày đi lang thang từ nơi này sang nơi khác khất thực mà ăn, không nhận vật dụng, không nhận tiền cúng dường--bỗng nhiên vì có người quay phim, chụp hình đưa lên mạng xã hội mà thành “hiện tượng”, thành ra “nổi tiếng” bất đắc dĩ. Điều đáng nói là “cơn sốt” của xã hội Việt Nam về sư Minh Tuệ cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Đã có rất nhiều ý kiến, bài viết khác nhau về sư Minh Tuệ trong suốt thời gian qua, với đủ mọi lời khen chê, mọi cung bậc sắc thái cảm xúc, nhưng có một điều rõ ràng là “hiện tượng” sư Minh Tuệ đã vô tình bộc lộ rất nhiều vấn đề trong tâm lý con người, hiện trạng xã hội cũng như hiện tình Phật giáo Việt Nam.

Chuyện bình thường ở nhiều nước khác, lại trở thành bất thường ở Việt Nam

Chuyện các nhà sư tu khổ hạnh lặng lẽ đi khất thực từ nơi này sang nơi khác không phải là chuyện lạ ở một số quốc gia có tỷ lệ người theo đạo Phật đông đảo, thậm chí ngay ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ VNCH trước đây, dân chúng cũng đã từng bắt gặp hình ảnh các nhà sư đi khất thực như vậy.

Nhưng như nhiều người cũng đã phân tích, tại sao bây giờ chuyện sư Minh Tuệ lại thành một hiện tượng? Thứ nhất, vì lâu nay hầu như hiếm có ai tu như vậy. Thứ hai, người dân được dịp so sánh với các ông “sư quốc doanh” trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Thích Chân Quang, Thích Nhật Từ, Thích Trúc Thái Minh…và rất nhiều ông sư khác. Các chức sắc Phật giáo này ở trong những ngôi chùa được xây nguy nga đẹp đẽ bằng tiền cúng dường, hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ, thậm chí đi xe hơi, xài điện thoại, đồng hồ đắt tiền, mặt mũi béo tốt, từ hành vi cử chỉ, lời nói cho đến lối sống còn đầy đủ sự tham lam sân si trần tục…Chẳng hạn như Thích Nhật Từ đi kiện một ông cụ già 90 tuổi chỉ vì một câu nói “ngu như bò”, Thích Trúc Thái Minh lừa phật tử qua việc trưng bày cái gọi là “xá lợi tóc” ở chùa Ba Vàng, hoặc kêu gọi cúng sao giải hạn, hay Thích Chân Quang với những lời giảng xàm xí về kiếp trước, về nhân quả, khuyên phật tử phải cúng dường càng nhiều càng tốt, đe dọa không cúng thì sẽ không được phước báu…

Sư Minh Tuệ xuất hiện cho chúng ta thấy điều gì trong tâm lý đám đông, hiện trạng xã hội, hiện tình Phật giáo Việt Nam?

Việc người dân kéo đàn kéo lũ đi theo sư Minh Tuệ, quay phim, chụp ảnh, sắp hàng đảnh lễ, quét rác, rải hoa trên đường đón sư Minh Tuệ và các huynh đệ đi qua, một mặt cho thấy người dân khao khát có những bậc chân tu, khao khát được nhìn thấy Phật giáo trở lại con đường giản di đúng với bản chất tự ngàn xưa; nhưng mặt khác việc nhiều người tôn sùng, quỳ lạy, khóc lóc, đọc thơ, sờ vào người, đòi đổi nồi cơm điện, giành nhau cái bìa carton sư lót chai nước, xâm phạm sự riêng tư--sư Minh Tuệ đi vào nhà vệ sinh cũng chĩa máy quay…cho thấy sự mê muội, thói mê tín, quan niệm lệch lạc, hiểu sai về đạo Phật của một số người. Cũng giống như việc đi chùa nhét tiền vào tay tượng Phật, cúng bái để cầu mong làm ăn phát tài mua may bán đắt, nhiều người dường như có quan niệm cúng dường chỉ để xin phước báu? Bên cạnh đó là sự trục lợi của một số người làm YouTube, Tiktok.

Dư luận cũng nói nhiều đến thái độ ghen tị, sân si của một số nhà sư quốc doanh, một số “đệ tử” của các vị này hay những “nhà báo” bênh vực cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ những bài viết, tấn công trực diện vào sư Minh Tuệ đăng trên trang Phật Giáo Đời Sống, như bài “Nghĩ gì về tăng đoàn của Minh Tuệ” của tác giả Lý Diện Bích chẳng hạn, vu khống, chụp mũ sư Minh Tuệ, lời văn bộc lộ rõ sư ganh ghét, tức tối về việc tu tập của sư Minh Tuệ (cả 3 bài viết này hiện đã lẳng lặng bị gỡ bỏ); rồi những cái sai trong văn bản của Hội đồng trị sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hạ thấp thầy Minh Tuệ, tuyên bố sư Minh Tuệ không phải là tu sĩ/nhà tu, đưa tên tuổi, nhân thân của sư Minh Tuệ ra; hay việc sư Sư Thích Chân Quang làm video mắng thầy Thích Minh Tuệ là thằng, là ba trợn…

Giữa những người mang tiếng là tu hành mà không hề bớt sân hận đó thì một nhà sư có những lời giảng sâu sắc, chân thành, đúng đắn về hiện tượng sư Minh Tuệ là Hòa thượng Thích Minh Đạo, Trụ trì Tu viện Minh Đạo ở Bà Rịa - Vũng Tàu, lại bị tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở địa phương của Hòa thượng khiển trách, bắt phạt quỳ sám hối, khiến vị Hòa thượng này phải xin rút lui khỏi mọi nhiệm vụ của giáo hội, “xin khép mình trong im lặng”.

Điều tích cực là sự lên tiếng của rất nhiều facebooker, nhà báo, nhà giáo, nhà văn, nhân sĩ trí thức, phật tử trên mạng xã hội đã có những tác dụng: Những bài viết tấn công sư Minh Tuệ bị buộc phải gỡ bỏ, giáo hội Phật giáo Việt Nam phải “mời” nhà sư Thích Chân Quang lên làm việc về những phát ngôn của mỉnh, và ngày 20/5 vừa qua trện báo điện tử của tỉnh Hải Dương đã có một bài viết rất đàng hoàng: “Sự thật phơi bày qua hiện tượng Thích Minh Tuệ”.

Bên cạnh đó cũng có rât nhiều người chất vấn: đi tu như vậy thì làm lợi gì cho xã hội? Ai cũng đi tu thì ai lao động, làm ra lúa gao, dệt vải, giữ gìn trật tự an ninh con đường sư đi. Đây gọi là lo bò trắng răng. Xã hội mỗi người một việc. Xã hội Việt Nam 100 triệu dân, có mấy người đi tu khổ hạnh được như thầy Minh Tuệ? Nếu lên tiếng sao không lên tiếng về những nhà sư, chùa cao cửa rộng giảng bậy bạ làm mê muội dân chúng, hay hiện tượng du lịch tâm linh, kinh doanh chùa…nhằm móc túi người dân và làm cho Phật giáo càng băng hoại thêm.

Giữa tất cả những sự ồn ào, bất nháo cho thấy sự mê muội, thiếu ý thức của nhiều người do phải sống quá lâu trong một xã hội độc tài, lệch chuẩn, một điều an ủi khác nữa như đã nói là đám đông vẫn luôn khao khát điều tốt đẹp, khao khát những con người tử tế. Khi một người tử tế, một trí thức đúng nghĩa, một vị chân tu xuất hiện người ta nhân ra ngay. Khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ qua đời, nhiều người trong đó có những trí thức miền Bắc lần đầu mới nghe đến tên Ngài, mới tìm đọc những gì Ngài viết rồi ngưỡng mộ, chia sẻ, lan tỏa…

Những người như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thiền sư Lê Mạnh Thát, hòa thượng Thích Quảng Độ và bao nhiêu bậc chân tu, thiền sư, học giả ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 với trí tuệ cao vời, đã miệt mài làm công việc giảng dạy, viết sách, dịch kinh…đóng góp vào văn hóa, giáo dục; cũng như đã làm gương cho đám đông qua chính bản thân các vị với một đời sống giản dị, đại bi đại trí đại dũng của mình.

Trong khi đó sư Minh Tuệ là người thực hành con đường tu tập của đức Phật thời xa xưa, không thuyết giảng, nhưng hình ảnh buông xả, từ bỏ tất cả của sư Minh Tuệ sẽ có những tác động. Khi nhìn thấy một người có thể từ bỏ, buông bỏ tất cả như vậy người ta sẽ tự đặt câu hỏi tại sao chúng ta không có thể buông bỏ một chút xíu gì đó trong tâm tính, trong ham muốn, cắt giảm bớt các nhu cầu, bớt phàn nàn sân si ghen tị v.v…để cuộc sống nhẹ nhàng hơn?

Tuy nhiên, cái gỉ thái quá thì cũng có hại. Kể cả sự khen ngợi, ngưỡng mộ, sùng bái khi quá mức sẽ không chỉ làm phiền đến việc tu tập, sự bình an của sư Minh Tuệ và những người đi cùng, mà sẽ tạo cớ cho nhà cầm quyền ra tay.

Lại có những người cho rằng sự xuất hiện của sư Minh Tuệ thời gian qua tuy làm hại cho Phật giáo Việt Nam là lột mặt nạ những kẻ giả tu và phơi bày sự suy thoái, biến tướng của Phật giáo Việt Nam, nhưng lại vô hình trung làm lợi cho nhà nước cộng sản. Giữa lúc “thượng tầng chính trị” của đảng cộng sản đang bị khủng hoảng trầm trọng với những cuộc thay người, “đảo chính mềm” diễn ra liên tục, thì việc dân chúng chú ý đến sư Minh Tuệ, bàn bạc suốt ngày về sư Minh Tuệ cũng làm giảm bớt sự chú ý vào nội tình bất ổn này? Nhưng chỉ cần sau khi bàn cờ ngã ngũ, mọi cái ghế đã được chia xong mà mối quan tâm cũng như ảnh hưởng của sư Minh Tuệ vẫn không giảm đi, thì nhà cầm quyền có thể sẽ ra tay “dẹp sạch” bằng bất cứ lý do vớ vẩn gì đó. Trong một chế độ độc tài mọi thứ từ hữu hình đến vô hình đều phải nằm “trong hệ thống”, đều phải chịu sự kiểm soát của đảng, bất cứ cái gì khác đi, dù là một cách tu khác, cũng không được phép.

Chế độ độc tài toàn trị khiến mọi thứ đều lệch lạc, lệch chuẩn

Nhìn vào xã hội Việt Nam hiên tại dưới chế độ độc tài toàn trị do đảng cộng sản lãnh đạo, chúng ta có thể nhận thấy một sự sai lạc, lệch hướng, lệch chuẩn trong mọi lĩnh vực, xuất phát từ sự sai lầm của mô hình thể chế chính trị và hướng đi của đất nước. Đó là sự lệch chuẩn từ những giá trị trong cuộc sống, tiêu chuẩn đánh giá con người, lối sống--chạy theo vật chất, chạy theo những cái bề ngoài…cho tới văn hóa, đạo đức, tôn giáo… Bởi vì tất cả đều bị chính trị hóa. Phật giáo Việt Nam thì vừa bị chính trị hóa, vừa bị thương mại hóa. Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ lâu nay đã trở thành một tổ chức “thần quyền”, dựa vào nhà cầm quyền, ứng xử độc tài chẳng khác gì chính nhà nước này khi tự cho mình cái quyền xác nhận ai không phải là tu sĩ/nhà sư, ai tu khác đi thì không được công nhận, ai lên tiếng nói điều phải thì bị phạt, bị quỳ sám hối, ai tu tại gia thì bị triệt cho vào tù...; còn những “ma tăng” suốt ngày rao giảng nhảm nhí, bậy bạ, hù dọa người dân để họ phải cúng dường cho mình có tiền sống phủ phê, có tiền hàng tỷ trong tài khoản, có sổ đỏ đất đai v.v…thì lại không hề gì.

Và hiện tình đó của Phật giáo Việt Nam sẽ không thể thay đổi khi nào còn chế độ độc tài, còn chưa có tự do tôn giáo. Phải có tự do tôn giáo thì các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng mới có thể phát triển lành mạnh, đúng hướng, mới có nhiều vị chân tu, trí thức, thiền sư xuất hiện tự do hoằng dương chánh pháp, in ấn sách vở, mở trường đại học, tổ chức những cuộc tranh luận sâu về triết học, về Phật giáo…Từ đó mới lại có thể có “thế hệ vàng” những nhà sư, thiền sư, trí thức có kiến thức uyên thâm, đạo hạnh cao vời như miền Nam trước đây và mới có thể nâng cao dân trí, giúp cho người dân có được sự hiểu biết đúng đắn về Phật giáo để không sa vào mê tín, dị đoan. Và những tổ chức tôn giáo độc lập, những nhóm tu tại gia như Thiền Am Bên Bờ Vũ trụ, hay người tu khổ hạnh như sư Minh Tuệ có thể được tự do tu hành miễn không làm hại gì ai.

25 tháng 5 2024

Không chỉ là sạn chữ

21.5.2024 - Thái Hạo

Tôi thì nghĩ, ai cũng có thể có những khiếm khuyết về tư duy và nhận thức, bởi không ai am tường hết mọi thứ trên đời, kể cả đó là một tiến sĩ. Nhưng là một người rất quan tâm đến tiếng Việt, tôi đã phải đọc lại stt ngắn này của ông Lê Kiên Thành nhiều lần, để cố hiểu nó.

Ông viết: “Với tất cả sự kính trọng Thầy và lòng yêu mến của các bạn với Thầy, tôi chỉ muốn hỏi những người muốn và đang đi theo bước chân thầy...”. Tôi không rõ tác giả đang muốn nói ai là người “kính trọng thầy”, là tác giả hay những người “đi theo”? Theo ngữ pháp tiếng Việt thì không thể hiểu là những người đi theo được, vì câu văn được bắt đầu bằng chữ “với” [tất cả sự kính trọng]. Nhưng đọc đến đoạn “và lòng yêu mến của các bạn với Thầy”, kết nối hai phần này lại với nhau thì ta mới nhận ra rằng cả “sự kính trọng” và “lòng yêu mến” ấy đều là "của các bạn”, chứ không phải của tác giả Lê Kiên Thành. Một câu văn rất rối rắm, lởm khởm. Tuy nhiên, nó cũng đã khiến không ít người hiểu lầm nếu đọc vội: họ sẽ tưởng tác giả “kính trọng” thầy Minh Tuệ.

Xin góp ý với tác giả để viết tiếng Việt cho trong sáng và đúng ngữ pháp. Câu trên có thể sửa thành: “Quan sát tất cả sự kính trọng Thầy và lòng yêu mến của các bạn với Thầy, tôi chỉ muốn hỏi những người muốn và đang đi theo bước chân thầy...”. Ở vị trí chữ “quan sát” còn có thể thay bằng “thấy”, “nhìn thấy”, “nhận thấy”. Còn để viết cho gọn gàng hơn nữa thì nên sửa lại toàn bộ câu văn, ví dụ: “Quan sát tất cả sự kính trọng và lòng yêu mến của các bạn với Thầy, tôi chỉ muốn hỏi...”. Viết như thế là đủ, không thừa, không thiếu và không gây hiểu lầm.

---

Trên thực tế, tư duy và nhận thức như thể hiện trong cái stt này của ông Lê Kiên Thành hiện vẫn còn rất phổ biến (tối qua tôi cũng đã có viết vài dòng về cái lối nghĩ ấy). Về mặt logic thì lập luận này là rất vụng và nông nổi, thôi không cần bàn nữa, vì nó gần giống như câu hỏi “Nếu ai cũng là đàn ông thì lấy ai sinh đẻ?”. 

Nhưng nhìn sâu hơn một chút thì thấy vấn đề rất đáng suy ngẫm, bởi nó đã gián tiếp bộc lộ cái quan niệm để thể hiện một thái độ văn hóa còn rất lạc hậu. Vì, thứ nhất, chỉ coi trọng những giá trị vật chất mà xem nhẹ giá trị tinh thần/ tư tưởng; chỉ coi trọng những vấn đề xã hội sơ đẳng mà coi thường những vấn đề tâm linh, tôn giáo. Thứ hai, là lối đồng phục xã hội. Đáng ra, cần phải tôn trọng và khuyến khích một xã hội đa dạng, đa nguyên, phong phú, thì lối nghĩ này thể hiện sự khước từ, quay lưng. Nó còn có tên gọi khác, là “chủ nghĩa tập thể”. Đây là con đẻ của tư tưởng chuyên chế (?).

18 tháng 5 2024

Mấy Sai Lầm Trong Quản Lý Cán Bộ, Quản Trị Xã Hội

17/5/2024 - Mạc Văn Trang

MacVanTrang-01-07

Tất cả những gì diễn ra gần đây trong việc xử lý các quan chức từ cấp xã/ phường đến huyện, tỉnh, trung ương, “tứ trụ”, cho thấy chiến lược ĐÀO TẠO, TUYỂN CHỌN, QUẢN LÝ CÁN BỘ và QUẢN TRỊ XÃ HỘI của Đảng và Nhà nước ta mắc những sai lầm kéo dài vài chục năm và bây giờ bộc lộ ra như căn bệnh trầm kha.

Đây là vấn đề vô cùng lớn của Đảng và Nhà nước, của Quốc gia. Phải có những ai đó có tầm nhìn khác hẳn với trước, có bản lĩnh, toàn tâm toàn ý vì nước, vì dân mới thoát khỏi tình trạng như hiện nay. 

Tôi chỉ xin nói vắn tắt mấy cái sai về QUẢN LÝ CÁN BỘ (QUAN CHỨC) và QUẢN TRỊ XÃ HỘI có tính nêu vấn đề, gợi ra cùng suy nghĩ…

1. QUẢN LÝ KIỂU ĐỨC TRỊ/ ĐẢNG TRỊ

TBT Nguyễn Phú Trọng như Cha già, luôn khuyên bảo, nhiếc móc, răn đe cấp dưới như con em. Nhưng bọn họ không nghe thì ông tạo ra “cái lò” để đốt “củi”. Cũng chỉ để dọa là chính, vì trong thâm tâm, ông vẫn luôn nói: Xử lý cán bộ phải nhân văn, nhân nghĩa, nhân tình; không thích thú gì trong việc xử lý nặng cán bộ… Rồi ông nhân nhượng, thương xót đồng chí: Từ chỗ coi kẻ tham nhũng là “giặc nội xâm” đến chỗ “ta đánh ta”, coi “ai tay đã nhúng chàm, thấy mình không xứng đáng thì làm đơn xin nghỉ đi”... Khi nội bộ đấu nhau, mấy UVBCT làm đơn xin nghỉ, cả hai Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,… dường như những chuyện đó vượt ngoài tầm kiểm soát của TBT Trọng. Ông bất lực? Nhưng như vậy là xử theo “Luật Đảng” đóng cửa bảo nhau, bất chấp Luật Nhà nước, nên dân chẳng biết một loạt UVBCT, quan chức cấp cao mắc những tội gì? Họ đứng ngoài pháp luật?

Một khi Hiến pháp, Luật pháp quốc gia không được thượng tôn mà xử quan chức cấp cao theo “Những điều đảng viên không được làm”, rồi cho nghỉ thì còn gì là phép nước?

Như vậy việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật đã không được thực thi. Đảng pháp thay cho Quốc pháp!

2. “TRÊN BẢO DƯỚI KHÔNG NGHE, TRÊN ĐE DƯỚI KHÔNG SỢ”

Cái cơ chế bổ nhiệm và quản lý cán bộ của thể chế này tạo ra tình trạng vô kỷ luật, mỗi cấp cứ tự tung, tự tác theo ý mình mà không sợ cấp trên.

Tôi từng nghe ông Phạm Văn Đồng nói ở Hội trường Đại học bách khoa, thời Bộ trưởng Tạ Quang Bửu: Tôi là Thủ tướng lâu nhất và bất lực nhất! Tôi muốn cách chức một thằng Thứ trưởng cũng không được!

Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, cũng kêu lên: “Tình trạng hiện nay, trên bảo dưới không nghe”!

Thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì như Đại ca ban phát cho “đàn em” quyền tha hồ tự tung tự tác, miễn sao được lòng đại ca là OK. Ông tự hào khoe, tôi chưa kỷ luật một đồng chí nào (?). Ông như Chúa Trịnh, còn TBT Nông Đức Mạnh như vua Lê, chỉ biết hỏi dân “Trồng cây gì, nuôi con gì”?...

Thời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phạm Minh Chính cũng chỉ hò hét, hô hào cho vui, chứ chẳng có quyền cách chức “thằng” thứ trưởng nào, “thằng” chủ tịch tỉnh nào!

Bộ trưởng chẳng có quyền cách chức các giám đốc Sở; giám đốc Sở Giáo dục chẳng có quyền cách chức Trưởng phòng giáo dục, Hiệu trưởng nhà trường…

Mỗi tỉnh như một vương quốc, bộ máy cồng kềnh rập khuôn theo trung ương, đủ các ban bệ. Bí thư tỉnh cũng là Trưởng ban chống tham nhũng, rồi một loạt bí thư tỉnh bị bắt vì cầm đầu nhóm tham nhũng…

Có mỗi cái chuyện kê khai tài sản cũng trầy trật, bốc thăm, kéo dài nhiều năm không xong, dân thì không được biết. Nhưng ai cũng biết, lương quan chức trung bình chừng 20 triệu đồng/ tháng, lấy đâu ra tiền sắm xe hơi nhà lầu, biệt phủ, cho con du học, mua nhà bên Tây, tiêu xài xa hoa…

Cái cơ chế quản lý: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”, “Toàn hệ thống chính trị đồng loạt ra quân” như lâu nay rõ ràng chồng chéo, vô hiệu hoá lẫn nhau, gây rối lãng phí, chẳng hiệu lực, hiệu quả, kỷ cương gì! 

3. “NHẤT THỂ HOÁ” LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP, TƯ PHÁP 

Người ta gọi chế độ cai trị của Việt Nam là “độc tài, toàn trị” hay “vua tập thể” chẳng sai. Ở ta không lộ diện một nhà độc tài như Kim Jong Un, Putin hay Tập Cận Bình, nhưng “Bộ Chính trị đã kết luận, Quốc hội không thể không ra luật” (Lời bà Kim Ngân, chủ tịch QH).

Quốc hội khoá XV có 491 đại biểu thì 480 là đảng viên, chiếm 97%. Hội đồng nhân dân ở các cấp cũng vậy. Cho nên tháng trước ông Vương Đình Huệ được Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm gần 100%, tháng sau bỏ phiếu phế truất chức Chủ tịch QH, cũng gần 100% nhất trí.

Ở tỉnh, huyện, xã thì Bí thư đảng uỷ đồng thời là Chủ tịch HĐND. Ví dụ bà Hoàng Thị Thuý Lan, bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, đồng thời là Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng trước HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bà được 100% phiếu tín nhiệm cao; tháng sau 100% phiếu của HĐND tỉnh phế truất bà khỏi chức Chủ tịch HĐND tỉnh!. Thế thì cái Quốc hội, HĐND các cấp đâu có đại diện cho dân, mà chỉ là con rối làm theo lệnh Đảng. Vậy thì bày đặt ra làm gì cho tốn công sức, tiền của và làm trò cười cho thiên hạ?

Quốc hội lại bao gồm hầu hết các thành viên Chính phủ và lãnh đạo ngành Tư pháp, mà những vị này lại đều là đảng viên. Vậy là “nhất thể hoá”, bày ra “Tam quyền” nhưng cũng chỉ là một. 

Ông Chánh án tối cao Nguyễn Hòa Bình cũng là Đại biểu Quốc hội; ông báo cáo trước Quốc hội, rằng mua dao và thớt ở chợ về thay cho vật chứng… và kết án Hồ Duy Hải tử hình là không oan sai (?). Cả Quốc hội im re!  

Nghe nói nhiều vụ án “bỏ túi”, tức là trước khi ra Toà, “Liên ngành tư pháp” đã họp, được “chỉ đạo, quán triệt” thống nhất kết án ở mức nào. Ra Toà chỉ “diễn”, bao nhiêu luật sư, có cãi gì cũng vô ích!

Nhiều người từng kêu lên: “Đất nước có một rừng luật mà chỉ xử theo luật rừng”!

Khi không có “Tam quyền phân lập” không hy vọng pháp luật được thượng tôn và đừng nghĩ đến Công lý!

4. LÀM CHO NHÂN DÂN VÔ CẢM, LIỆT KHÁNG

Tuyên giáo và Công an đã rất thành công trong việc trấn áp mọi tiếng nói và hành động phản kháng của nhân dân. Nhân dân giờ đây như vô cảm, liệt kháng trước các vấn đề chính trị, xã hội do Đảng, Nhà nước đang tiến hành. 

Có ai tin rằng bây giờ lại có những cuộc biểu tình rầm rộ như “Phản đối tàn phá cây xanh”, “Phản đối Formosa”, “Phản đối giàn khoan HD 981 của Trung cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam”, “Phản đối Ba đặc khu”... nữa không? Cứ cái cách mà Tuyên giáo và Công an làm như hiện nay sẽ không có nữa đâu và tình trạng vô cảm, liệt kháng ngày càng trầm trọng hơn.

Bây giờ công an còn gác cửa từng nhà các “đối tượng” mỗi khi có sự kiện gì đó nghi là “đối tượng” có thể tham gia. Buồn cười, nhà thơ Phan Đắc Lữ thấy ba, bốn công an đến gác cửa, liền hỏi: 

- Các cháu gác về chuyện gì đó? 

- Hôm nay Văn đoàn Độc lập trao giải…

- Bác có biết gì đâu và có đi dự đâu? Để bác gọi điện hỏi xem nào…

- Trao giải online anh ạ, không có họp mặt gì đâu. Nhà thơ Ý Nhi trả lời ông Lữ.

- Các cháu nghe đấy. Về đi để bác đi cắt tóc…

- Hôm nay bác không được ra ngoài. Chúng cháu chỉ thi hành nhiệm vụ thôi!

Như vậy làm sao còn có “tụ tập đông người”, làm sao có mit tinh, biểu tình phản đối chuyện gì được! Xã hội tuyệt đối “ổn định” đến mức liệt kháng!

Nhưng mấy vạn người tụ tập mấy ngày, tại chùa Ba Vàng để “chiêm bái” “xá lợi tóc Đức Phật ngọ ngoạy” và cúng dường thì thoải mái luôn.

Thế Tuyên giáo, Công an có tài tình không chứ!?

Bao nhiêu người phản biện xã hội bị bắt, bị tù; bao nhiêu người bị vô hiệu hoá bằng mọi cách.

Cái phương cách làm cho dân liệt kháng sẽ di hại nhiều thế hệ, có khi căn bệnh đó kéo dài hàng trăm năm đối với dân tộc ta!

Nếu có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có luật biểu tình thì người dân tỏ rõ thái độ phản ứng trước những sai trái của chính quyền, biết đó mà điều chỉnh kịp thời; nếu các nhà báo có quyền điều tra độc lập, phanh phui những sai trái của các quan chức thì họ có thể tự điều chỉnh, hoặc bị mất chức kịp thời, thay người khác… 

Nếu như vậy thì làm gì còn chuyện Ban kiểm tra Trung ương Đảng toàn lôi những sai lầm của cán bộ từ hàng chục năm trước ra cách các chức “nguyên” và truy tố tội từ ngày xưa!

Việc để cho những tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, tội lỗi kéo dài hàng chục năm rồi mới điều tra xử lý đã gây tác hại vô cùng lớn về nhiều mặt mà không thể khắc phục được nữa. Đó chỉ là cách Đảng trị tội nhau, chứ nhân dân và đất nước chịu bao nhiêu thiệt hại vô kể, dài đằng đẵng. 

5. ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN BỊ LOẠI RA

Bốn điều nói trên cho thấy “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” muốn làm gì thì làm, Nhân dân ngày càng bị loại khỏi sự tham gia vào chính trị. Tất cả những trò bầu cử “Ngày hội non sông”, 100% dân đi bầu, đại biểu trúng cử 100% phiếu tín nhiệm, tiếp xúc cử tri… chẳng có gì thực chất. Vì tất cả do Đảng đạo diễn. Người dân không được tự do ứng cử, thậm chí mấy người ứng cử đại biểu QH còn bị khủng bố, bị đi tù.

Tệ hại hơn nữa, khi chưa có chính quyền, Đảng được dân nuôi sống, che chở, huy động sức dân làm cách mạng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”! Nhưng khi cướp được chính quyền, cai trị dân thì “bộ phận không nhỏ” quan chức coi dân như “Thế lực thù địch”(?). 

Đảng không bênh vực dân mà các phe nhóm của Đảng bao che, bênh vực nhau, coi người dân phản đối như kẻ thù.

- Đỗ Hữu Ca đem quân tấn công nhà nông dân Đoàn Văn Vươn thì ông Vươn đi tù, Hữu Ca từ đại tá lên Thiếu tướng công an;

- Dự án Ecopark cưỡng chế thu hồi đất của 166 hộ dân tại xã Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên) 500 người dân đã ra đấu tranh, xô xát… Nhưng cuối cùng dân vừa mất đất vừa hàng chục người bị bắt, bị tù…

- Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Dương Nội (Hà Nội) cũng vậy. Dù đấu tranh, kiện tụng gì Dân cũng thua và một số đi tù;

- Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, bao nhiêu tiếng gào thét oan ức, bao nhiêu đơn kêu cứu… Nhưng tất cả vô vọng.

- Làng Vũ La quê tôi cũng bị cưỡng chế thu hồi đất nhanh gọn, không xảy ra đổ máu, nhưng một loạt đảng viên bị kỷ luật vì “không nghiêm chỉnh chấp hành”. Đất thu hồi xong giám đốc Tân Hoàng Minh đi tù, đất rào lại bỏ hoang… 

Không biết bao nhiêu vụ cưỡng chế thu hồi đất rồi bỏ hoang trên đất nước ta. Đó thực sự là tội ác.

- Vụ thu hồi đất ở xã Đồng Tâm (Hà Nội) là điển hình của việc “dân thua”, vừa mất đất vừa chết người, tù tội kinh hoàng… Còn những người “thi hành công vụ” được khen thưởng, thăng chức.

Tôi muốn kể lại một số sự kiện trên để thấy bao nhiêu dân oan kiện tụng đều vô vọng. Chính quyền bảo vệ nhau, dân luôn thua. Đúng như lời Bộ Trưởng Mai Tiến Dũng nói: “Nếu sai, chúng ta nhận lỗi trước dân, nếu dân sai thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”!

Hơn 2 nghìn năm trước, Aristotle viết: “Con người là một sinh vật chính trị”, đã lý giải, con người không thể tách rời khỏi đời sống chính trị của cộng đồng mà nó sinh sống.

Thực ra nhìn hình thức thấy dân Việt Nam “tham gia chính trị” sôi nổi lắm: Nào các đoàn thể, nào Mặt trận Tổ quốc, nào bầu cử “Ngày hội non sông, 100% dân đi bầu”, nào “Tiếp xúc cử tri”, nào khắp nơi băng rôn khẩu hiệu, cờ quạt loa đài… Nhưng tất cả chỉ để ca ngợi Đảng và chế độ. Khác đi là “thế lực thù địch”! Đó không phải là “Chính trị”. Người dân tham gia Chính trị ít nhất phải là:

- Tự do ứng cử, bầu cử;

- Tự do ngôn luận, báo chí;

- Tự do lập Hội, biểu tình, mít tinh…;

- Các quyền công dân trong Hiến pháp phải được thực thi.

Xét như vậy, dân ta hiện nay chỉ là “Những sinh vật phi chính trị”!

THAY LỜI KẾT

Là một công dân quan tâm đến đất nước, đến xã hội thì viết mấy điều suy nghĩ của mình, với mong muốn, ai đó đọc và nối tiếp lan toả những suy nghĩ này một cách sâu sắc, toàn diện hơn nữa và hy vọng đến một ngày nào đó có những thay đổi…

Tôi cũng biết rằng, viết bài này cũng là mạo hiểm, chắc chắn bị bên Thông tin truyền thông săm soi, tìm ra “thông tin không chính xác” để phạt; Công an truy tìm “động cơ, mục đích” viết để làm gì? Còn DLV (Mạ thủ) được bảo kê, tha hồ quy chụp, chửi rủa “thằng già” vô hạn độ…

Đấy, thời nay, người dân nước mình muốn “Tự do ngôn luận” theo Điều 25 Hiến pháp thì đành phải chịu đựng như vậy.

17/5/2024

MVT

12 tháng 5 2024

Bi Kịch Của Chủ Nghĩa Đức Trị

7.5.2024 - Huỳnh Ngọc Chênh

HuynhNgocChenh-01-01

Tui có một cây xoài trồng bên ngoài hàng rào, sát đường đi chung của một xóm có 6 hộ gia đình. Vừa rồi cây xoài đó ra hoa kết quả mùa đầu tiên và chỉ đậu đúng một trái. Trái xoài ấy phơi ra lối đi nay đã lớn có thể ăn xanh hoặc sắp ăn chín được rồi. Tui hoàn toàn không có biện pháp bảo vệ nào, chỉ hên xui trông chờ vào đạo đức của những người hàng xóm đi qua đi lại. Ấy vậy mà hơn 1 tháng trôi qua, từ khi xoài đã lớn có thể ăn được, nó vẫn còn nguyên trên cây. Tui đã gặp hên. Ít ra là đến bây giờ.

Lẽ ra tui phải xây dựng một cơ chế khoa học và hữu hiệu để bảo vệ trái xoài như: làm hàng rào bọc cây xoài lại, thuê người canh gác ngày đêm và gắn camera giám sát. Với cơ chế giám sát hữu hiệu này thì có đến 99% trái xoài không bị hái trộm. Tuy nhiên tui lại đi theo “chủ nghĩa đức trị” phó mặc sự còn mất trái xoài vào đạo đức của những người hàng xóm đi qua lại. Nếu những kẻ đó đều có đạo đức: Trái xoài tui còn, nếu có một người trong số đó kém đạo đức: Trái xoài tui chắc chắn mất đi. Tui hoàn toàn dựa vào hên xui, mà độ xui xẻo lên đến trên 90%.

Thế giới văn minh ngày nay vẫn còn một số quốc gia mà người dân giao phó hoặc bị buộc phải giao phó vận mệnh quốc gia, vận mệnh của họ cho một cá nhân hay một nhóm người cai trị rồi ngồi thụ động cầu mong cá nhân đó hay nhóm người đó là “đấng minh quân” chứ không phải là phường vô lại. Hiếm hoạ mới có một quốc gia gặp may đã có được “minh quân”. Phần lớn các quốc gia còn lại hầu như đã gặp xui, kẻ cai trị là phường hôn quân.

Sau chiến tranh Nam Bắc, vào năm 1953, bán đảo Triều Tiên bị chia hai. Phía Bắc rơi vào tay nhà độc tài Kim Nhật Thành, phía nam vào tay nhà độc tài Phác Chung Hy. Phía bắc gặp xui, họ Kim là nhà cai trị tệ hại đã đưa đất nước này đến chỗ cùng đường và di hại đến tận hôm nay, nhân dân đói rách đến mức có lúc phải ăn cả rễ cây, và tệ hại hơn nữa là họ bị giam hảm trong một nhà tù toàn quốc, không được tiếp xúc và tự do đi lại với thế giới văn minh.

Nửa bán đảo phía Nam gặp hên, có được nhà cai trị độc tài là bậc minh quân. Trong vòng 17 năm cai trị khắc nghiệt, 1962 – 1979, ông ta đã lập nên kỳ tích sông Hàn, đưa Nam Hàn lên thành quôc gia vượt qua đói nghèo và đặt chân vào thế giới phát triển để có được một Hàn Quốc giàu mạnh như ngày nay.

Thật ra người dân Nam Hàn cũng không gặp hên ngay lần lựa chọn đầu tiên và lần thứ hai. Lý Thừa Vãn là chọn lựa đầu tiên nhưng thất bại vì ông thiếu tài và kém đức. Vị tổng thống thứ hai cũng tượng tự. Mãi đến lần thứ ba, mất hết gần 10 năm, Hàn Quốc mới gặp hên, chọn được Phác Chung Hy, đích thực là bậc minh quân. Cũng khá may mắn là Hàn Quốc còn có cơ hội để chọn lại. Ông Phác là nhà độc tài, cai trị và quản lý đất nước hết sức khắc nghiệt theo chế độ quân sự, nhưng là nhà độc tài có tâm sáng, tất cả ông làm vì mục tiêu giàu mạnh của đất nước chứ không phải vì mục tiêu cá nhân. Ông làm tổng thống cai trị Hàn Quốc trong 17 năm. Và cũng rất may cho Hàn Quốc, vào năm 1979, ông bị ám sát chết. Thủ phạm bắn chết ông tuyên bố ông là sự cản trở cho nền tự do dân chủ nên cần phải loại đi.

Sau khi ông Phác chết, Hàn Quốc đã xây dựng thành công thể chế dân chủ như các quốc gia văn minh khác trên thế giới. Chủ nghĩa độc tài đức trị đã theo ông Phác xuống mồ, chủ nghĩa dân chủ pháp trị được hình thành. Nghĩa là Hàn Quốc không còn mơ hồ hên xui giao vận mệnh đất nước vào tay một cá nhân hay một nhóm hú hoạ nào đó. Họ nhanh chóng xây dựng các biện pháp hợp lý và khoa học, xây dựng một cơ chế điều hành tối ưu mà các nước dân chủ văn minh tiên tiến đang áp dụng. Dùng pháp luật để quản lý đất nước.

Một câu hỏi được đặt ra, liệu ông Phác Chung Hy không bị ám sát, vẫn tiếp tục cai trị độc tài cho đến khi chết như hầu hết các nhà độc tài khác thì Hàn Quốc có tiếp tục phát triển ổn định đến ngày nay? Cái đó cũng hên xui, nếu về sau ông Phác vẫn còn tài đức, vẫn còn minh mẫn thì có thể. Nếu về sau ông trở nên ảo tưởng về quyền lực vô hạn của mình, trở nên ngạo mạn và lú lẫn như hầu hết những tay độc tài khác thì Hàn quốc cũng khó duy trì sự phát triển ổn định đến ngày nay.

Trường hợp Singapore, nhiều người lầm tưởng ông Lý Quang Diệu là một nhà độc tài “minh quân”. Không hề, ông ấy là một nhà pháp trị “minh quân”. Khi được giao quyền lãnh đạo đất nước ông xây dựng ngay thể chế dân chủ, xây dựng một nền pháp trị vững mạnh trên nền tảng tam quyền phân lập để điều hành Singapore. Ông làm thủ tướng hết nhiệm kỳ này qua nhiệm kỳ khác không phải bằng bạo lực để cưỡng đoạt, mà đảng của ông quản lý rất tốt đất nước, giành được sự tín nhiệm của toàn dân nên liên tục được bầu lại, các đảng khác chưa đủ uy tín để cạnh tranh lại dù họ được tự do và bình đẳng tham gia tranh cử.

Các đất nước có nền dân chủ pháp trị, điều hành quốc gia bằng luật pháp thì không nói đến đức trị, không hên xui trông chờ vào bậc minh quân một khi họ đã có “minh chế”. Người lãnh đạo đất nước trong cơ chế pháp trị được nhân dân chọn lọc và bầu ra qua lá phiếu, phải làm việc trong khuôn khổ luật pháp như tất cả các công chức khác từ thấp đến cao, nếu họ làm việc tốt có thể duy trì thêm 1,2 nhiệm kỳ nữa, nếu họ làm không tốt thì sau một nhiệm kỳ bị truất phế đi ngay bằng lá phiếu. Họ không có cơ hội để kéo dài sai lầm từ thập kỷ này qua thập kỷ khác.

Bi kịch của chủ nghĩa đức trị là ông lãnh đạo độc tài nào cũng cho mình là bậc minh quân, là bậc tài đức khác thường không ai có thể thay thế. Rồi các ông “minh quân” ấy xây dựng ra cả một hệ thống quản lý dưới quyền mà nhân sự được chọn lựa rất chủ quan duy ý chí, rập khuôn “tài đức” như của các ổng, lấy mấy ổng làm thần tượng để học tập và làm theo. Bởi vậy trong các chế độ độc tài toàn trị luôn xuất hiện các “bậc thánh thần” như thánh Lenin, thánh Stalin, thánh Mao, thánh Pon Pot, thánh Fidel, thánh Kim, thánh Kadafi, thánh Hussein … Các thánh ấy càng vĩ đại thần dân (chứ không phải công dân) của các thánh ấy càng điêu đứng, càng không được làm người.

Với chủ nghĩa đức trị, nhân sự của bộ máy cai trị hình thành theo kiểu: “chỉ đưa những người tài đức vào trung ương”, “cương quyết không đưa những người xu nịnh chạy chọt vào trung ương”, “không đưa vào trung ương người cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bè cánh, cục bộ, quan liêu …” với những tiêu chuẩn hoàn toàn định tính theo chủ quan của “bậc minh quân” đứng đầu, một kiểu hô khẩu hiệu chung chung mà không hề nêu ra biện pháp cụ thể và khoa học để chọn được người đạt các tiêu chuẩn mong ước.

Một bộ máy quản lý chỉ hên xui trông chờ vào đạo đức của các thành viên, mà phần xui thì quá lớn, tất yếu sẽ là một bộ máy rệu rã, bị lợi lộc chi phối, định hướng quản lý theo tác động của đồng tiền. Một bộ máy như vậy chắc chắn là môi trường tốt cho tệ quan liêu tham nhũng phát sinh và lộng hành.

Rồi một khi tệ tham nhũng trở thành quốc nạn, trào lên không kiểm soát được, không che giấu được thì đi tìm nguyên nhân. Lúc đó tất yếu phải tìm ra nguyên nhân của tham nhũng là do “sự suy thoái lối sống và đạo đức của cán bộ”. Vâng, theo “bậc minh quân”, tệ nạn tham nhũng là do nhân sự của bộ máy có nhiều cá nhân suy thoái đạo đức, không noi gương và học tập như “minh quân”, phải loại những kẻ suy thoái đó ra thì bộ máy sẽ trong sạch và sẽ hết tham nhũng. Khi loại người cũ ra phải tuyển người mới vào, và lại hên xui mong chờ người mới sẽ đạo đức hơn, bộ máy sẽ hết tham nhũng. Nhưng lại quên một điều rằng, dù có tuyển được người mới có đạo đức tốt đẹp, mà với bộ máy thiếu sự kiểm soát từ nhiều phía thì người cán bộ mới tốt đẹp đó có còn mãi tốt đẹp hay không. Trái xoài chín mà cứ phơi ra giữa lối đi, không có biện pháp bảo vệ, thì cũng có người đi qua dù không tham cũng động lòng tham. Thực tế cho thấy, hết lớp người này bị bắt tù, bị thải hồi, đến lớp người mới vào cũng lặp lại tội trạng cũ mà ở mức độ còn cao hơn, nghiêm trọng hơn. Lại phải bắt tù, lại phải thanh lọc …

Nói cho đầy đủ, bộ máy nhà nước của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới dù dân chủ hay độc tài cũng đều có tham nhũng, vấn đề ít hay nhiều mà thôi.

Những quốc gia theo cơ chế dân chủ pháp trị chắc chắn tệ nạn tham nhũng và quan liêu sẽ được hạn chế đến mức tối thiểu. Bởi các quốc gia đó đưa ra những tiêu chuẩn định lượng và dùng những biện pháp khoa học để tuyển chọn công chức vào bộ máy, và tất cả những cái đó đều quy định trong luật pháp chứ không làm tuỳ tiện theo ý thích của mỗi kẻ đứng đầu, còn những người đứng đầu bộ máy từ địa phương lên trung ương thì được người dân tuyển chọn qua tự do bầu cử. Trong quá trình tranh cử cạnh tranh khốc liệt, những kẻ tài hèn đức mọn sẽ bị phát hiện và bị loại ra.

Bên cạnh bộ máy quyền lực điều hành quốc gia thì có các bộ máy quyền lực độc lập khác, có bộ máy đặt ra luật lệ và giám sát, có bộ máy chuyên phân xử khi có kiện tụng hoặc sai trái. Cái đó gọi là tam quyền phân lập. Rồi giám sát luôn cả tam quyền thì có đảng phái đối lập (luôn rình mò bắt lỗi công chức đảng cầm quyền), có đệ tứ quyền là báo chí tự do, có các tổ chức xã hội dân sự do người dân tự lập ra. Với cả một hệ thống giám sát chằng chịt và chặt chẽ như vậy thì một công chức bình thường có lòng tham muốn tham ô cũng rất khó, huống chi các vị công chức cao cấp như tổng thống, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, chánh án tối cao… càng bị theo dõi và giám sát chặt chẽ hơn thì càng khó bề suy thoái đạo đức dù có muốn.

Trở lại chuyện tui chống trộm trái xoài. Theo cơ chế pháp trị tui sẻ làm hàng rào bao bọc cây xoài, rồi để tránh việc hàng rào bị kẻ trộm vào phá, tui lại thuê thêm người bảo vệ canh giữ , rồi để giám sát người bảo vệ có canh gác hay không hoặc có thông đồng với kẻ trộm hay không, tui lại gắn một cái camera internet để theo dõi qua điện thoại. Với cơ chế bảo vệ và giám sát như vậy, tui sẽ yên chí đến 99% trái xoài sẽ không bị trộm. Còn như thực tế hiện nay, tui theo cơ chế đức trị, để mặc trái xoài ấy phơi ra, chỉ trông mong vào đạo đức tốt đẹp của những người hàng xóm, thì có khả năng đến 90% rơi vào bi kịch, là trái xoài sẽ mất tiêu vào ngày nào đó.

Nhưng bi kịch không phải là tui bị mất trái xoài, bi kịch nằm ở chỗ khác to lớn hơn. Vì tui thiếu sự bảo vệ nên có thể biến một người hàng xóm không tham thành kẻ trộm. Khi việc mất trái xoài loang ra, hàng xóm sẽ nghi kỵ nhau, người này nghi ngờ người kia, thậm chí có người sẽ nghi ngờ chính tui đã hái trái xoài rồi vu oan cho hàng xóm. Mất hết lòng tin vào nhau. Quá sức bi kịch.

Dù sao, với cá nhân tui thì chỉ mất một quả xoài và mất đi tình làng nghĩa xóm, nhưng với một quốc gia, nếu cứ bám vào chủ nghĩa đức trị, thì mất mát vô cùng lớn. Mất tài nguyên môi trường, mất tài sản quốc gia, mất sự công bằng xã hội, mất niềm tin vào công lý, mất nền tảng đạo đức, mất lòng người … rồi đưa đến mất nước cũng không xa lắm.

Quá sức bi kịch.

Nhà Nước Xoài

10.5.2024 - Huỳnh Ngọc Chênh

HuynhNgocChenh-01-02

Từ bài viết BI KỊCH CỦA CHỦ NGHĨA ĐỨC TRỊ có bạn đã hỏi tui nếu tui có đến 10 quả xoài hoặc cả một vườn xoài thì sự việc sẽ như thế nào? Xin trả lời là cũng y vậy vì nó thuộc sở hữu của mình tui, tui muốn rào lại hay tui muốn thả ra hên xui vào đức hạnh của hàng xóm hoặc của những kẻ đi đường là quyền của tui.

Nhưng sự việc sẽ khác đi rất xa nếu có một vườn xoài đầy trái mà thuộc sở hữu chung của nhiều người.

Đặt giả đinh đó là một vườn xoài đang ra trái lại thuộc sở hữu chung bình đẳng của 20 người thì sự việc sẽ diễn ra như thế nào?

Không thể tất cả 20 người đều đứng ra quản lý vườn xoài theo ý muốn riêng của mình. Đó là trạng thái vô chính phủ sẽ gây ra rối loạn và xung đột quyền lợi gữa nhau, vườn xoài sẽ tan hoang. 20 người chủ biết được điều đó nên ngồi lại với nhau để cùng đưa đến một thoả thuận là giao việc quản lý vườn xoài cho một cá nhân chịu trách nhiệm quản lý. Khế ước xã hội ra đời, đồng thời nhà nước xuất hiện. Đứng đầu nhà nước đó chỉ một người tạm gọi là tổng thống.

Nhưng chỉ giao quyền hành cho một người thì người đó sẽ làm theo ý mình lại sẽ gây hại, nên cần phải xây dựng luật lệ để người đó làm theo, và cũng cần giám sát người đó làm có đúng luật hay không. Do vậy phải bầu ra một hội đồng chừng 5 người để soạn luật lệ và giám sát tổng thống. Quốc hội ra đời.

Lúc đó vị tổng thống không phải muốn làm gì thì làm, mà phải điều hành quản lý vườn xoài theo luật lệ quy định. Ông ta phải xây hàng rào cỡ nào, tốn bao nhiêu tiền, phải thuê bao nhiêu bảo vệ, trả lương ra sao, phải gắn bao nhiêu camera với giá chừng nào, mỗi chủ sở hữu phải đóng góp hàng tháng bao nhiêu để duy trì quản lý … nhất nhất phải làm theo quy định và trình ra cho hội đồng duyệt thông qua từng hạng mục.

Nhưng trong quá trình điều hành và giám sát điều hành chắc chắn sẽ phát sinh mâu thuẫn, quốc hội nói việc này tổng thống đã làm sai, tổng thống cãi lại đã làm đúng. Vậy phải có người độc lập đứng ra phân xử. Toà án ra đời.

Nhà nước của vườn xoài bây giờ bao gồm ba cơ quan quyền lực độc lập với nhau: Tổng thống, quốc hội và toà án. Đó gọi là nhà nước tam quyền phân lập. Mọi cương vị đều do 20 người chủ sở hữu bầu ra, nên gọi là nhà nước dân chủ.

Đó là mô hình nhà nước dân chủ tam quyền phân lập được hầu hết các quốc gia văn minh tiến bộ trên thế giới áp dụng. Nó có thể chưa là mô hình hoàn hảo, nhưng chắc chắn là mô hình hợp lý và ưu việt nhất tính đến thời điểm này.

Nhưng, nếu như ông tổng thống được bầu ra là một người ham muốn quyền lực, một người thủ đoạn, muốn âm mưu cướp đoạt quyền hành, ví dụ là tui chẳng hạn.

Sau khi được tập thể sở hữu giao phó làm tổng thống để quản lý vườn xoài, tui cấu kết với một số người thân tín, lập bè đảng thao túng việc bầu cử hội đồng (quốc hội). Tui đưa tay chân của tui vào chiếm hết hoặc chiếm đa số thành viên hội đồng. Lúc đó tui buộc hội đồng soạn ra luật lệ theo ý tui, có lợi cho tui. Hội đồng chỉ ngồi làm cảnh. Rồi tui đưa tay chân trong bè đảng qua làm toà án. Như vậy về hình thức vẫn có một nhà nước tam quyền, nhưng thực chất đều nằm dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của tui. Nhà nước độc tài toàn trị ra đời.

Lúc đó tui muốn làm gì cũng được, thay vì thuê ba bảo vệ để luân phiên canh gác vườn xoài ngày đêm thì tui chỉ thuê một bảo vệ và thuê hai nữ nhân viên trẻ đẹp làm thư ký riêng cho tui. Xây hàng rào và bắt camera tốn 10 triệu thì tui kế lên 20 triệu. Rồi thỉnh thoảng tui sai bảo vệ lén lút hái ít xoài đi bán để tui tiêu xài riêng. Thiếu người bảo vệ thì tui kêu gọi tinh thần yêu nước mỗi người làm việc bằng ba, nhân viên bảo vệ phải tăng lên ba ca, nữ thư ký của tui phải giúp việc cho tui cả ca đêm, 20 ông chủ phải đóng góp tiền đầu tư hàng tháng (thuế) nhiều hơn nữa. Rồi tui sai tay chân tung hô tui lên là nhà đức trị, là bậc minh quân, là thánh nhân phi thường cần phải tôn thờ. 20 chủ sở hữu của vườn xoài, có ai tỏ ý không tôn thờ thần phục tui, góp ý, phản biện lại đường lối của tui, tui ghép vào tội phản động, phản quốc … kà kà.

Đó là mô hình nhà nước độc tài toàn trị có khá nhiều ở thế kỷ 19, 20. Qua thế kỷ 21 mô hình đó đã sụp đổ rất nhiều nhưng vẫn còn tồn tại ở một số quốc gia đến hiện nay.

Nhưng chỉ dừng lại ở một tổng thống độc tài toàn trị, tui vẫn thấy chưa bằng lòng. Sau này tui chết đi kẻ khác sẽ cướp mất quyền hành, con cháu tui sẽ ra sao? Tui cho rằng tui phải lên ngôi vua mới xứng tầm tài đức của tui. Thế là tui cho tay chân viết lại tiểu sử của tui, thêm thắt rằng, lúc tui sinh ra, có rồng hiện xuống, mặt trời sáng rực lên, mới ba tuổi tui đã biết cỡi ngựa bắn cung, 9 tuổi biết lái xe tăng … đó là những dấu hiệu của bậc đế vương, con trời giáng thế. Rồi tui dùng quyền lực bắt mọi người tung hô tui lên ngôi hoàng đế. Lúc đó vườn xoài không là tài sản chung của 20 thần dân nữa mà là tài sản của trẫm .

Đó là mô hình nhà nước độc tài phong kiến mà hầu như quốc gia nào trên thế giới cũng trải qua, có quốc gia kéo dài vài trăm năm, có quốc gia tồn tại đến mấy nghìn năm.

Cho đến thế kỷ thứ 18, nhà nước độc tài phong kiến đầu tiên bị lực lượng tư sản đứng lên lật đổ để lập ra nhà nước dân chủ. Đó là triều đình phong kiến Pháp bị đánh đổ bởi cuộc cách mạng dân chủ tư sản ngày 4/7/ 1789. Cũng vào giai đoạn đó, nhà nước độc tài phong kiến Anh cũng dần dần được thay thế bằng mô hình dân chủ gọi là quân chủ lập hiến qua cuộc cách mạng êm thắm và không đổ máu cũng được lãnh đạo bởi lực lượng tư sản đang trỗi dậy mạnh mẽ. Hoàng gia Anh muốn tồn tại phải nhượng bộ lực lượng cách mạng, cải cách chính trị, thay đổi thể chế, giao quyền điều hành đất nước lại cho toàn dân, thông qua việc bầu cử ra quốc hội và chính phủ.

Các quốc gia châu Âu khác cũng lần lượt dân chủ hoá. Riêng nước Nga đến mãi năm 1917, lực lượng tư sản mới nổi lên làm cách mạng dân chủ lật đổ Sa Hoàng. Tuy nhiên bi kịch cho nước nga, nhà nước dân chủ không tồn tại được bao lâu thì rơi vào tay đảng cộng sản của Lenin. Chế độ độc tài đảng trị được lập ra.

Có hai quốc gia từ khi mới thành lập đã không trải qua chế độ độc tài đó là Mỹ và Singapore.

Sau khi lãnh đạo nhân dân đánh đuổi được thực dân Anh, giành được độc lập, ông Washington đã không tiếm quyền lập ra chế độ độc tài, mà xây dựng ngay một nhà nước dân chủ tam quyền phân lập. Nhà nước đó tồn tại đến tận ngày nay đã giúp nước Mỹ vốn là thuộc địa lạc hậu vươn nhanh lên thành siêu cường tiên tiến số một thế giới, trở thành tấm gương sáng cho nhiều quốc gia khác noi theo.

Singapore, ngay từ khi tách ra khỏi Malaysia, giới lãnh đạo tinh hoa xây dựng nhà nước dân chủ đa đảng, tam quyền phân lập. Và nhờ vậy từ vùng đất nhỏ bé đói nghèo lạc hậu đã vươn lên thành con rồng Châu Á được thế giới khâm phục nể vì.

TB: Nhân tiện thông báo, đến hôm nay trái xoài của tui vẫn còn trên cây.