Hiển thị các bài đăng có nhãn Song Chi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Song Chi. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 6 2024

Trước mắt, sẽ chưa có một sự đổi mới chính trị nào ở Việt Nam

Thứ Năm, 06/13/2024 - 09:49 — Song Chi

Ảnh của songchi

Qua việc bắt giữ 2 nhân vật nổi tiếng là nhà báo Huy Đức và luật sư Trần Đình Triển – hai con người dù có những ý kiến, bài viết phản biện sắc sảo trước mọi vấn đề của đất nước, xã hội, nhưng vẫn được xem như người trong hệ thống, phản biện để góp phần xây dựng đảng, xây dựng đất nước tốt đẹp hơn chứ không phải là người của “các tổ chức, thế lực thù địch”; và việc “quản lý” sư Minh Tuệ – một người tu hành không quan tâm đến chính trị và vì vô tính mà trở thành nổi tiếng chứ không muốn thế, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cho người dân trong nước và thế giới thấy rõ một điều:

Trước mắt, sẽ không có một sự khoan dung, đổi mới nào về chính trị cả. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo sẽ càng bị siết chặt, tình hình nhân quyền sẽ càng tệ hại đi ở Việt Nam.

Thực tế cho thấy Việt Nam càng “mở cửa” làm ăn với thế giới, càng đa phương hóa trong chính sách ngoại giao thì đối nội càng gia tăng ngăn chặn, đàn áp mọi tiếng nói phản biện, mọi cá nhân, tổ chức có thể có ảnh hưởng với đám đông. Những năm gần đây tình hình càng tệ hơn. Nhà cầm quyền đã “bắt nguội, bắt vét, truy cùng diệt tận” cả những nhà bất đồng chính kiến, những nhà hoạt đã tạm ngừng hoạt động một thời gian vì những lý do cá nhân như bận việc gia đình, sức khỏe… như kỹ sư, blogger Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư, nhà hoạt động Trần Bang, cựu admin của trang Facebook Nhật ký yêu nước Phan Tất Thành v.v…Không chỉ giới blogger, nhà báo, luật sư nhân quyền, mà cả những nhà hoạt động môi trưởng, những người ở trong hệ thống như ông Lưu Bình Nhưỡng (Phó trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội), ông Nguyễn Văn Bình (Vụ trưởng Vụ pháp chế thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội), Ông Vũ Minh Tiến (Trưởng ban Pháp chế và Chính sách của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) …Và mới đây nhất, như vừa nói, là nhà báo Huy Đức và luật sư Trần Đình Triển.

Tại sao lại như vậy?

Có nhiều lý do để không gian tự do vốn đã vô cùng chật hẹp đối với người dân Việt Nam, nay càng bị siết chặt hơn. Ngoài nỗi ám ảnh thường trực của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam về các “thế lực thù địch”, về “diễn biến hòa bình”, thì tình trạng bất ổn, khủng hoảng chính trị ở thượng tầng với những cuộc đấu đá, triệt hạ lẫn nhau vô cùng khốc liệt đã không còn che giấu được ai, là một lý do. Khi thượng tầng càng bất ổn, thì nhà cẩm quyền càng phải gia tăng đàn áp để giữ vững chế độ.

Thứ hai, yếu tố phe nhóm, địa phương trong những cuộc tranh giành quyền lực khiến không chỉ các doanh nghiệp “sân sau” thuộc về phe này, phe khác, mà cả những cá nhân vô tình được sự ủng hộ của một phe nào đó, cũng sẽ bị phe khác “ngứa mắt” triệt luôn. Và nếu theo cách lý giải đó thì nhà báo Huy Đức, suốt một thời gian dài được cho là ủng hộ ông Nguyễn Phú Trọng (cho tới hai bài viết mới nhất, chỉ trích cả ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, lẫn ông Tân Chủ tịch nước Tô Lâm) có thể bị ông Tô Lâm lệnh cho Bộ Công An bắt; hoặc theo người khác thì cả hai ông Huy Đức và Trần Đình Triển đều gốc Hà Tĩnh, mà nội bộ “cung đình” thì có các cuộc đầu đá giữa phe Nghệ An-Hà Tĩnh với phe Hưng Yên, nên các ông bị vạ lây? (Nhân tiện, không biết có quốc gia nào khác như Việt Nam hay Trung Quốc, mà yếu tố phe nhóm địa phương trong tranh giành quyền lực lại mạnh đến vậy?)

Chúng ta không có câu trả lời chính xác. Như từ bao nhiêu năm nay vẫn vậy, đảng Cộng sản Việt Nam che giấu mọi thông tin từ nội trị cho tới ngoại giao, người dân chỉ có thể suy đoán mà thôi.

Nguyên nhân thứ ba khiến nhà cầm quyền Việt Nam ngày càng mạnh tay đàn áp, chà đạp nhân quyền là bởi vì không có sức ép nào đáng kể từ cả quốc tế cho tới công luận trong nước. Và chính vì vậy họ cứ ngang nhiên, công khai ngồi xổm lên luật pháp trong nước, luật pháp quốc tế.

Với những trí thức nổi tiếng như nhà báo Huy Đức, luật sư Trần Đình Triển, bắt họ có khi còn là để có những đầu mối dẫn đến người khác, chúng ta biết Huy Đức là người có quan hệ rộng, và trong suốt quá trình làm báo anh có rất nhiều tư liệu liên quan đến bao nhiêu người. Hay có khi chỉ là để chứng tỏ quyền lực mạnh đang lên của một cá nhân, một nhóm nào đó.

Dù không phải là bi quan nhưng với việc gán cho hai người tội danh "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" theo Điều 331 Bộ luật Hình sự, dự đoán là bản án sẽ không dưới 5 năm.

Chuyện nhà báo Huy Đức, luật sư Trần Đình Triển bị bắt là như vậy, còn chuyện sư Minh Tuệ, cũng không có gì lạ nếu nhìn lại chính sách đàn áp tôn giáo xuyên suốt bao nhiêu năm của đảng Cộng sản. Bất cứ một cá nhân, tổ chức nào muốn nằm bên ngoài hê thống tôn giáo quốc doanh do nhà nước kiểm soát chặt chẽ thì đều không được phép, huống chi sư Minh Tuệ, dù chỉ xuất hiện trên mạng xã hội một tháng nay nhưng sức ảnh hưởng, lan tỏa lại mạnh mẽ không ngờ, khiến nhà cầm quyền phải dẹp ngay.

Trong một chế độ độc tài toàn trị như ở Việt Nam, tuyệt đối không có chỗ cho các đảng phái đối lập, những tiếng nói phản biện, hay bất cứ một thần tượng nào ngoài ông Hồ Chí Minh. Bất cứ ai có thể có ảnh hưởng tới đám đông là phải bị dập, bất cứ ai đứng ngoài hệ thống là không được phép. Đơn giản như vậy.

Nhưng đối với sư Minh Tuệ, có mấy điều khiến những chúng ta có thể tạm yên tâm:

Sư Minh Tuệ chỉ là một cá nhân tự tu tập, không thuộc về bất cứ tổ chức giáo hội nào, sư là người sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, từng là bộ đội, công chức cán bộ của chế độ, sư không quan tâm đến chính trị, chuyện thế sự v.v…Hoàn toàn khác với những trường hơp như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, hòa thượng Thích Quảng Độ, và những người thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất – một tổ chức Phật giáo được thành lập từ năm 1964 và không chấp nhận chịu sự kiểm soát của đảng Cộng sản Việt Nam. Các ngài như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, hòa thượng Thích Quảng Độ, Thiền sư Lê Mạnh Thát là những người có kiến thức, trí tuệ cao vời về Phật học, triết học nhưng đồng thời cũng là những người rất hiểu rõ chế độ độc tài cộng sản là gì, và không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp trước cường quyền, vì vậy đảng và nhà nước cộng sản phải tìm mọi cách để cô lập, kết án tù hàng chục năm, thậm chí họ từng kết án tử hình Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và thiền sư Lê Mạnh Thát…Nhưng còn sư Minh Tuệ thì không quan tâm đến chính trị, có lẽ trước mắt nếu người dân không bu quanh, không đưa tin liên tục, không ngưỡng mộ quá mức mà chỉ chắp tay đứng bên đường chào khi sư đi qua thì có lẽ nhà cầm quyền sẽ để cho sư Minh Tuệ tiếp tục bộ hành dưới sự “quản lý” của họ, còn nếu lại có chuyện ồn ào vây quanh thì họ lại tách sư ra, đưa về lại một chỗ, hoặc sư lại phải “ẩn tu” (như tình hình mới nhất ngày 14/6) nhưng chuyện tù đày trước mắt chắc là không có.

Muôn vàn thủ đoạn, biện pháp để ngăn chặn, tiêu diệt

Gần tám thập niên cầm quyền ở miền Bắc và gần nửa thế kỷ độc quyền lãnh đạo trên toàn quốc, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam có muôn vàn biện pháp, thủ đoạn để ngăn chặn từ xa mọi mầm mống phản kháng, mọi khát khao thay đổi, mọi hình ảnh, biểu tượng, ảnh hưởng tốt đẹp có thể tạo ra sự liên tưởng, so sánh, đối chiếu với sự sai lầm, tổi dở của đảng và cái hệ thống nhà nước XHCN.

Chúng ta đã thấy, bất cứ khi nào bắt một người có liên quan đến yếu tố chính trị thì nhà cầm quyền cô lập người đó suốt trong thời gian tạm giam cho đến khi ra tòa không cho tiếp xúc với bạn bè, người thân để bẻ gãy ý chí của người đó, tầm thường hóa, kể cả bôi nhọ, vu khống người bị bắt với những tội danh hình sự…Còn đối với các nhân vật tôn giáo thì cũng cô lập khỏi tín đồ, bình thường hóa, tầm thường hóa họ. Việc báo đài nhà nước liên tục nêu tục danh sư Minh Tuệ, nhắc đi nhắc lại việc sư không phải là một tu sĩ của bất cứ chùa nào, bắt sư lăn tay làm căn cước công dân…đều nằm trong thủ đoạn này. Nếu ai có xem cái video do công an Gia Lai đưa lên về việc sư Minh Tuệ đến nhận Căn cước công dân thì hiểu. Công an liên tục gọi tên công dân Lê Anh Tú, nhắc đến việc có Căn cước công dân thì có lợi ra sao, tức là nhằm giải thiêng, bình thường hóa, rằng đây chỉ là một công dân đi lang thang không có giấy tờ nay được nhà nước cấp giấy tờ cho. Cũng trong video đó, nét mặt sư Minh Tuệ không hề tỏ ra vui vẻ gì như công an nói, bởi vì với sư, một người đã từng có Chứng minh nhân dân, có công ăn việc làm, cha mẹ nhà cửa rộng rãi khang trang, nhưng đã bỏ hết để đi tu thì cần gì một cái thẻ Căn cước công dân nữa?

Thậm chí có ý kiến bên dưới cái video được đưa lên mạng này cũng nói rằng “Ngài có lần nói “thế danh con bỏ rồi, không hỏi thế danh con nữa”!

Bên cạnh đó, báo chí nhà nước mấy ngày nay cũng liên tục có những đòn đáp trả dư luận trong ngoài nước về 2 vụ việc trên. Với trường hợp Huy Đức, báo quốc doanh nhấn mạnh ông từng là nhà báo nhưng đã bị cho thôi việc, không còn là nhà báo nữa, cũng giống như sư Minh Tuệ không phải là tu sĩ vì không thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tất cả những điều này rất khôi hài và vô nghĩa, Bởi vì là một nhà báo hay không là dựa trên năng lực, kiến thức, nghiệp vụ của người đó, chất lượng của những bài báo người đó viết chứ không phải dựa trên việc có còn làm việc trong 1 tòa soạn, có thẻ nhà báo hay không; biết bao nhiêu nhà báo có thẻ mà từ nặng lực, tay nghề, cho tới lương tâm nhà báo là vứt đi, như trường hợp cô phóng viên VTV đưa tin vụ Đồng Tâm theo quan điểm của nhà cầm quyền và làm 2 cái video lắp ghép, dối trá về sư Minh Tuệ bị dân mạng chỉ ra bao nhiêu sơ hở. Cũng như vậy có là tu sĩ, nhà sư hay không trong mắt phật tử là do phẩm hạnh, đạo đức, trí huệ của nhà sư đó chứ không phải là do thuộc về 1 tổ chức phật giáo hay không; biết bao nhiêu người gọi là sư mà tham lam sân si trần tục, sống một cuộc sống phủ phê hưởng lạc, miệng rao giảng những lời nhảm nhí, góp phần làm băng hoại nền phật giáo Việt Nam, làm ngu dân người Việt Nam…Một vài nhân vật ma tăng này mấy hôm nay cũng liên tục lên tiếng chê bai sư Minh Tuệ, chỉ trích nặng nề truyền thông ngoài lề và mạng xã hội vì đã lật mặt họ là những giả sư như thế nào…

Bất chấp việc báo đài của nhà nước nói sư Minh Tuệ “tự nguyện” ẩn tu hoặc trong video clip của VTV nói rằng “khi đi hết các địa phương trên cả nước thì ông sẽ dừng chân ở 1 nơi nào đấy, hoặc khi nào thuận lợi vài năm mới đi 1 lần chứ không phải lúc nào cũng bộ hành…”, sư Minh Tuệ không hề khẳng định sẽ ẩn tu. Bởi vì như sư đã từng nhiều lần nói ước nguyện của sư là được tiếp tục thực hành tu tập theo hạnh đầu đà, đi bộ hành khất thực từ nơi này sang nơi khác cho đến chết. Trả lời phỏng vấn báo Người Lao Động ngày 10/6, sư cho biết từ ngày 10/6 lại đi khất thực, vì nếu chỉ ngồi một chỗ nhận cơm nước do gia đình đem đến là không đúng với lối tu khắc khổ của hạnh đầu đà.

Một điều ai cũng thấy là sự xuất hiện của sư Minh Tuệ đã có những ảnh hưởng tích cực cho xã hội, giúp nhiều người dân nhận chân đâu là một vị chân tu, đâu là những ma tăng, thấy rõ hơn sự biến tướng, biến chất của Phật giáo Việt Nam khi bị chính trị hóa, thương mại hóa suốt một thời gian dài. Và cũng từ việc dư luận lên tiếng so sánh, chỉ trích mà “đại đức” Thích Nhuận Đức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã bị cấm thuyết giảng dưới mọi hình thức trong một năm vì liên quan đến những video thuyết giảng bị cho là phản cảm; “thượng tọa” Thích Chân Quang thì bị Ban Tôn giáo Chính phủ đề nghị thẩm tra và báo cáo về các phát ngôn, việc làm và thuyết giảng lan truyền trên mạng xã hội thời gian qua, vì bị cho là “không đúng với giáo lý, giáo luật, truyền thống văn hóa của Phật giáo và lịch sử của dân tộc Việt Nam; sửa đổi giới cấm trong chứng điệp quy y Tam bảo của Phật giáo”…Rõ ràng là những nhân vật này hay như Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhật Từ đều có những hành vi, lời nói không phù hợp với 1 người tu hành suốt 1 thời gian dài, nhưng chính nhờ sự xuất hiện của sư Minh Tuệ và phản ứng của dư luận mà Ban Tôn giáo chính phủ, Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phải làm những việc chấn chỉnh này.

Tuy nhiên, việc chấn chỉnh một vài nhà sư sẽ không thay đổi được gì, cũng như việc thanh lọc Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ không thể thực hiện được khi không có tự do tôn giáo, bản thân Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì từ lâu đã trở thành một tổ chức độc quyền về phật giáo, bị chính trị hóa, thương mại hóa thành ra lệch lạc, biến tướng, suy thoái như vậy.

Khủng hoảng chính trị, có hy vọng gì cho Việt Nam?

Khi phải sống quá lâu trong một chế độ độc tài và không nhìn thấy lối thoát, nhiều người trong chúng ta có tâm lý hy vọng vào một sự thay đổi từ bên ngoài hoặc từ trên xuống. Nhớ lại giai đoạn trước đây với ông cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng có quan điểm cho rằng ông Dũng và phe ông Dũng có vẻ thân với phương Tây, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng lại lấy con trai của một viên chức VNCH, trong khi phe ông Nguyễn Phú Trọng bị cho là thân Tàu. Vì vậy nên ủng hộ ông Dũng để khi ông ấy nắm được quyền lực, sẽ làm những cuộc cải cách, thay đổi. Kết cục như chúng ta thấy trong suốt thời gian ông Dũng làm Thủ tướng, Chính phủ của ông tuy có đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, mở cửa thị trường nhưng lạm dụng quyền lực, tham nhũng nặng nề, đã tạo ra những tập đoàn kinh tế Nhà nước tham nhũng, làm ăn thất bại như Vinashin, Vinalines… để lại phía sau những khoản nợ công lớn, thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, rồi đại dự án Bôxít Tây Nguyên lợi ít, hại nhiều, đã ngốn của Nhà nước những nguồn lực lớn v.v…

Khi ông Nguyễn Phú Trọng mới nhậm chức, cũng vô số lời khen ngợi, có những bài báo gọi ông Nguyễn Phú Trọng là kẻ sĩ Hà Nội, là người cộng sản cuối cùng, người “đốt lò” vĩ đại…và kêu gọi người dân ủng hộ công cuộc “đốt lò” chống tham nhũng của ông Trọng. Kết cục như thế nào?

Tham nhũng càng hoành hành ở mức độ ngày càng lớn, trở thành những đại án, siêu đại án. Bản thân ông Trọng còn giữ chức vụ Trưởng Tiểu ban Nhân sự nhưng việc chọn người của ông đã chứng tỏ sự sai lầm khi hàng loạt quan chức lãnh đạo cấp cao do chính ông chọn lựa đều bị khui ra có tham nhũng, vi phạm pháp luật và phải từ chức. Rồi việc ông cứ lập đi lập lại yêu cầu về đạo đức cách mạng, dùng đức trị thay cho pháp trị càng không hiệu quả.

Bây giờ lại có những ý kiến về Tô Lâm như thể một người mạnh tay quét sạch các quan tham, rằng nếu ông Tô Lâm có quyền lực cao hơn, thậm chí có thể nhập cả hai chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch nước làm một, thì có thể sẽ chuyển đổi từ mô hình độc tài cộng sản, độc tài tập thể thành độc tài cá nhân, nhà nước công an trị, hay thậm chí theo hướng dân chủ hóa?

Thực tế Việt Nam cho thấy trong quá trình lâu dài tranh giành và bám giữ quyền lực, những người cộng sản không chỉ tiêu diệt các đảng phái đối lập, những người bất đồng chính kiến mà cũng tiêu diệt cả những người ưu tú có khuynh hướng cởi mở, tiến bộ trong đảng. Từ tướng Trần Độ, nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch… trước kia cho tới mới đây Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng là một khuôn mặt sáng sủa, có trình độ… Rốt cuộc, những kẻ chiến thắng trong những cuộc tranh giành quyền lực này hoặc là những người theo chủ nghĩa Mác Lenin giáo điều – những người thuộc bên tuyên giáo, hoặc bên công an. Họ chỉ tập trung vào việc bảo vệ chế độ hơn là đi theo con đường dân chủ hóa. Mà cho dù có muốn, họ cũng không làm được. Không một ai trong số những quan chức lãnh đạo cao cấp hiện nay có đủ uy tín, tầm nhìn xa, kiến thức rộng, có lòng yêu nước thương dân, biết đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên quyền lợi của đàng, của phe nhóm. Còn nếu trở thành độc tài cá nhân, công an trị thì chẳng có gì tốt đẹp hơn.

Vận mệnh Việt Nam vì vậy không thể trông chờ từ phương Tây, từ sự sụp đổ của Trung Cộng, từ sự nghĩ lại thay đổi của các quan chức lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam. Sức ép phải từ người dân. Mỗi người làm hết sức việc của mình. Cộng với thời cơ đến có khi bất ngờ.

Điều lạc quan, đáng hy vọng là người dân Việt Nam bây giờ nhờ có internet đã nhận được nhiều thông tin đa chiều hơn, họ không còn hoàn toàn tin vào những lời nói của đảng và nhà nước, họ cũng nhìn thấy hiên tình xã hội, đất nước, nạn tham nhũng, khoảng cách giàu nghèo, sự bất công, không có tự do dân chủ ra sao. Người dân khát khao sự tử tế – từ một vị chân tu cho tới những quan chức trung thực; khát khao được sống trong một xã hội văn minh, nhân bản, luật pháp công bằng, con người được tự do, được tham gia góp ý, phản biện những chính sách của nhà nước, được là người chủ thật sự của đất nước chứ không phải bị gạt ra ngoài lề chỉ đứng nhìn những tấn tuồng chèo trên sân khấu chịnh trị như lâu nay. Và khi cơ hội đến chắc chắn đa số người dân sẽ muốn biến sự khát khao ấy thành hiện thực.

30 tháng 5 2024

Một con người xuất hiện mà làm lộ ra bao nhiêu điều

Thứ Năm, 05/30/2024 - 13:42 — Song Chi

Ảnh của songchi

Sư Minh Tuệ, một người 6 năm qua lặng lẽ thực hành lối tu khổ hạnh (Hạnh đầu đà)-- ngày ăn một bữa, áo mặc là những mảnh vải rách vá lại với nhau, đêm ngủ ngồi ở gốc cây, nghĩa địa, ngày đi lang thang từ nơi này sang nơi khác khất thực mà ăn, không nhận vật dụng, không nhận tiền cúng dường--bỗng nhiên vì có người quay phim, chụp hình đưa lên mạng xã hội mà thành “hiện tượng”, thành ra “nổi tiếng” bất đắc dĩ. Điều đáng nói là “cơn sốt” của xã hội Việt Nam về sư Minh Tuệ cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Đã có rất nhiều ý kiến, bài viết khác nhau về sư Minh Tuệ trong suốt thời gian qua, với đủ mọi lời khen chê, mọi cung bậc sắc thái cảm xúc, nhưng có một điều rõ ràng là “hiện tượng” sư Minh Tuệ đã vô tình bộc lộ rất nhiều vấn đề trong tâm lý con người, hiện trạng xã hội cũng như hiện tình Phật giáo Việt Nam.

Chuyện bình thường ở nhiều nước khác, lại trở thành bất thường ở Việt Nam

Chuyện các nhà sư tu khổ hạnh lặng lẽ đi khất thực từ nơi này sang nơi khác không phải là chuyện lạ ở một số quốc gia có tỷ lệ người theo đạo Phật đông đảo, thậm chí ngay ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ VNCH trước đây, dân chúng cũng đã từng bắt gặp hình ảnh các nhà sư đi khất thực như vậy.

Nhưng như nhiều người cũng đã phân tích, tại sao bây giờ chuyện sư Minh Tuệ lại thành một hiện tượng? Thứ nhất, vì lâu nay hầu như hiếm có ai tu như vậy. Thứ hai, người dân được dịp so sánh với các ông “sư quốc doanh” trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Thích Chân Quang, Thích Nhật Từ, Thích Trúc Thái Minh…và rất nhiều ông sư khác. Các chức sắc Phật giáo này ở trong những ngôi chùa được xây nguy nga đẹp đẽ bằng tiền cúng dường, hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ, thậm chí đi xe hơi, xài điện thoại, đồng hồ đắt tiền, mặt mũi béo tốt, từ hành vi cử chỉ, lời nói cho đến lối sống còn đầy đủ sự tham lam sân si trần tục…Chẳng hạn như Thích Nhật Từ đi kiện một ông cụ già 90 tuổi chỉ vì một câu nói “ngu như bò”, Thích Trúc Thái Minh lừa phật tử qua việc trưng bày cái gọi là “xá lợi tóc” ở chùa Ba Vàng, hoặc kêu gọi cúng sao giải hạn, hay Thích Chân Quang với những lời giảng xàm xí về kiếp trước, về nhân quả, khuyên phật tử phải cúng dường càng nhiều càng tốt, đe dọa không cúng thì sẽ không được phước báu…

Sư Minh Tuệ xuất hiện cho chúng ta thấy điều gì trong tâm lý đám đông, hiện trạng xã hội, hiện tình Phật giáo Việt Nam?

Việc người dân kéo đàn kéo lũ đi theo sư Minh Tuệ, quay phim, chụp ảnh, sắp hàng đảnh lễ, quét rác, rải hoa trên đường đón sư Minh Tuệ và các huynh đệ đi qua, một mặt cho thấy người dân khao khát có những bậc chân tu, khao khát được nhìn thấy Phật giáo trở lại con đường giản di đúng với bản chất tự ngàn xưa; nhưng mặt khác việc nhiều người tôn sùng, quỳ lạy, khóc lóc, đọc thơ, sờ vào người, đòi đổi nồi cơm điện, giành nhau cái bìa carton sư lót chai nước, xâm phạm sự riêng tư--sư Minh Tuệ đi vào nhà vệ sinh cũng chĩa máy quay…cho thấy sự mê muội, thói mê tín, quan niệm lệch lạc, hiểu sai về đạo Phật của một số người. Cũng giống như việc đi chùa nhét tiền vào tay tượng Phật, cúng bái để cầu mong làm ăn phát tài mua may bán đắt, nhiều người dường như có quan niệm cúng dường chỉ để xin phước báu? Bên cạnh đó là sự trục lợi của một số người làm YouTube, Tiktok.

Dư luận cũng nói nhiều đến thái độ ghen tị, sân si của một số nhà sư quốc doanh, một số “đệ tử” của các vị này hay những “nhà báo” bênh vực cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ những bài viết, tấn công trực diện vào sư Minh Tuệ đăng trên trang Phật Giáo Đời Sống, như bài “Nghĩ gì về tăng đoàn của Minh Tuệ” của tác giả Lý Diện Bích chẳng hạn, vu khống, chụp mũ sư Minh Tuệ, lời văn bộc lộ rõ sư ganh ghét, tức tối về việc tu tập của sư Minh Tuệ (cả 3 bài viết này hiện đã lẳng lặng bị gỡ bỏ); rồi những cái sai trong văn bản của Hội đồng trị sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hạ thấp thầy Minh Tuệ, tuyên bố sư Minh Tuệ không phải là tu sĩ/nhà tu, đưa tên tuổi, nhân thân của sư Minh Tuệ ra; hay việc sư Sư Thích Chân Quang làm video mắng thầy Thích Minh Tuệ là thằng, là ba trợn…

Giữa những người mang tiếng là tu hành mà không hề bớt sân hận đó thì một nhà sư có những lời giảng sâu sắc, chân thành, đúng đắn về hiện tượng sư Minh Tuệ là Hòa thượng Thích Minh Đạo, Trụ trì Tu viện Minh Đạo ở Bà Rịa - Vũng Tàu, lại bị tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở địa phương của Hòa thượng khiển trách, bắt phạt quỳ sám hối, khiến vị Hòa thượng này phải xin rút lui khỏi mọi nhiệm vụ của giáo hội, “xin khép mình trong im lặng”.

Điều tích cực là sự lên tiếng của rất nhiều facebooker, nhà báo, nhà giáo, nhà văn, nhân sĩ trí thức, phật tử trên mạng xã hội đã có những tác dụng: Những bài viết tấn công sư Minh Tuệ bị buộc phải gỡ bỏ, giáo hội Phật giáo Việt Nam phải “mời” nhà sư Thích Chân Quang lên làm việc về những phát ngôn của mỉnh, và ngày 20/5 vừa qua trện báo điện tử của tỉnh Hải Dương đã có một bài viết rất đàng hoàng: “Sự thật phơi bày qua hiện tượng Thích Minh Tuệ”.

Bên cạnh đó cũng có rât nhiều người chất vấn: đi tu như vậy thì làm lợi gì cho xã hội? Ai cũng đi tu thì ai lao động, làm ra lúa gao, dệt vải, giữ gìn trật tự an ninh con đường sư đi. Đây gọi là lo bò trắng răng. Xã hội mỗi người một việc. Xã hội Việt Nam 100 triệu dân, có mấy người đi tu khổ hạnh được như thầy Minh Tuệ? Nếu lên tiếng sao không lên tiếng về những nhà sư, chùa cao cửa rộng giảng bậy bạ làm mê muội dân chúng, hay hiện tượng du lịch tâm linh, kinh doanh chùa…nhằm móc túi người dân và làm cho Phật giáo càng băng hoại thêm.

Giữa tất cả những sự ồn ào, bất nháo cho thấy sự mê muội, thiếu ý thức của nhiều người do phải sống quá lâu trong một xã hội độc tài, lệch chuẩn, một điều an ủi khác nữa như đã nói là đám đông vẫn luôn khao khát điều tốt đẹp, khao khát những con người tử tế. Khi một người tử tế, một trí thức đúng nghĩa, một vị chân tu xuất hiện người ta nhân ra ngay. Khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ qua đời, nhiều người trong đó có những trí thức miền Bắc lần đầu mới nghe đến tên Ngài, mới tìm đọc những gì Ngài viết rồi ngưỡng mộ, chia sẻ, lan tỏa…

Những người như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thiền sư Lê Mạnh Thát, hòa thượng Thích Quảng Độ và bao nhiêu bậc chân tu, thiền sư, học giả ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 với trí tuệ cao vời, đã miệt mài làm công việc giảng dạy, viết sách, dịch kinh…đóng góp vào văn hóa, giáo dục; cũng như đã làm gương cho đám đông qua chính bản thân các vị với một đời sống giản dị, đại bi đại trí đại dũng của mình.

Trong khi đó sư Minh Tuệ là người thực hành con đường tu tập của đức Phật thời xa xưa, không thuyết giảng, nhưng hình ảnh buông xả, từ bỏ tất cả của sư Minh Tuệ sẽ có những tác động. Khi nhìn thấy một người có thể từ bỏ, buông bỏ tất cả như vậy người ta sẽ tự đặt câu hỏi tại sao chúng ta không có thể buông bỏ một chút xíu gì đó trong tâm tính, trong ham muốn, cắt giảm bớt các nhu cầu, bớt phàn nàn sân si ghen tị v.v…để cuộc sống nhẹ nhàng hơn?

Tuy nhiên, cái gỉ thái quá thì cũng có hại. Kể cả sự khen ngợi, ngưỡng mộ, sùng bái khi quá mức sẽ không chỉ làm phiền đến việc tu tập, sự bình an của sư Minh Tuệ và những người đi cùng, mà sẽ tạo cớ cho nhà cầm quyền ra tay.

Lại có những người cho rằng sự xuất hiện của sư Minh Tuệ thời gian qua tuy làm hại cho Phật giáo Việt Nam là lột mặt nạ những kẻ giả tu và phơi bày sự suy thoái, biến tướng của Phật giáo Việt Nam, nhưng lại vô hình trung làm lợi cho nhà nước cộng sản. Giữa lúc “thượng tầng chính trị” của đảng cộng sản đang bị khủng hoảng trầm trọng với những cuộc thay người, “đảo chính mềm” diễn ra liên tục, thì việc dân chúng chú ý đến sư Minh Tuệ, bàn bạc suốt ngày về sư Minh Tuệ cũng làm giảm bớt sự chú ý vào nội tình bất ổn này? Nhưng chỉ cần sau khi bàn cờ ngã ngũ, mọi cái ghế đã được chia xong mà mối quan tâm cũng như ảnh hưởng của sư Minh Tuệ vẫn không giảm đi, thì nhà cầm quyền có thể sẽ ra tay “dẹp sạch” bằng bất cứ lý do vớ vẩn gì đó. Trong một chế độ độc tài mọi thứ từ hữu hình đến vô hình đều phải nằm “trong hệ thống”, đều phải chịu sự kiểm soát của đảng, bất cứ cái gì khác đi, dù là một cách tu khác, cũng không được phép.

Chế độ độc tài toàn trị khiến mọi thứ đều lệch lạc, lệch chuẩn

Nhìn vào xã hội Việt Nam hiên tại dưới chế độ độc tài toàn trị do đảng cộng sản lãnh đạo, chúng ta có thể nhận thấy một sự sai lạc, lệch hướng, lệch chuẩn trong mọi lĩnh vực, xuất phát từ sự sai lầm của mô hình thể chế chính trị và hướng đi của đất nước. Đó là sự lệch chuẩn từ những giá trị trong cuộc sống, tiêu chuẩn đánh giá con người, lối sống--chạy theo vật chất, chạy theo những cái bề ngoài…cho tới văn hóa, đạo đức, tôn giáo… Bởi vì tất cả đều bị chính trị hóa. Phật giáo Việt Nam thì vừa bị chính trị hóa, vừa bị thương mại hóa. Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ lâu nay đã trở thành một tổ chức “thần quyền”, dựa vào nhà cầm quyền, ứng xử độc tài chẳng khác gì chính nhà nước này khi tự cho mình cái quyền xác nhận ai không phải là tu sĩ/nhà sư, ai tu khác đi thì không được công nhận, ai lên tiếng nói điều phải thì bị phạt, bị quỳ sám hối, ai tu tại gia thì bị triệt cho vào tù...; còn những “ma tăng” suốt ngày rao giảng nhảm nhí, bậy bạ, hù dọa người dân để họ phải cúng dường cho mình có tiền sống phủ phê, có tiền hàng tỷ trong tài khoản, có sổ đỏ đất đai v.v…thì lại không hề gì.

Và hiện tình đó của Phật giáo Việt Nam sẽ không thể thay đổi khi nào còn chế độ độc tài, còn chưa có tự do tôn giáo. Phải có tự do tôn giáo thì các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng mới có thể phát triển lành mạnh, đúng hướng, mới có nhiều vị chân tu, trí thức, thiền sư xuất hiện tự do hoằng dương chánh pháp, in ấn sách vở, mở trường đại học, tổ chức những cuộc tranh luận sâu về triết học, về Phật giáo…Từ đó mới lại có thể có “thế hệ vàng” những nhà sư, thiền sư, trí thức có kiến thức uyên thâm, đạo hạnh cao vời như miền Nam trước đây và mới có thể nâng cao dân trí, giúp cho người dân có được sự hiểu biết đúng đắn về Phật giáo để không sa vào mê tín, dị đoan. Và những tổ chức tôn giáo độc lập, những nhóm tu tại gia như Thiền Am Bên Bờ Vũ trụ, hay người tu khổ hạnh như sư Minh Tuệ có thể được tự do tu hành miễn không làm hại gì ai.

12 tháng 5 2024

“Bắt nguội”, “bắt vét” và “truy cùng diệt tận”

Thứ Năm, 05/09/2024 - 17:55 — Song Chi

Ảnh của songchi

Cùng lúc với việc mở rộng bắt bớ hoặc trừng phạt các quan tham từ trên xuống dưới (thực chất là đấu đá, sát phạt lẫn nhau để giành ghế là chính), nhà cầm quyền Việt Nam cũng gia tăng bắt bớ những người bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động xã hội dân sự. Với mỗi quan tham bị bắt thì người dân đều choáng váng vì mức độ tham nhũng, hối lộ nghiêm trọng, “ăn của dân không chừa một thứ gì”; đám quan tham này đã làm thất thoát bao nhiêu tiền bạc, tài nguyên của nhân dân, đất nước, đã để lại những hậu quả năng nề cho nền kinh tế, đã làm xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào mức độ minh bạch về kinh tế, sự ổn định chính trị của Việt Nam cũng như lòng tin (vốn đã mòn tới đáy) của người dân vào nền luật pháp XNCHVN v.v…Trong khi đó với những người bất đồng chính kiến, chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, không có bất cứ một lực lượng, thế lực, quyền hành gì trong tay, thì người ta phải đặt câu hỏi họ gây nguy hiểm gì, gây hại gì mà nhà cầm quyền phải “truy cùng diệt tận” họ như vậy? Gọi là “truy cùng diệt tận” bởi vì hầu hết những người bị bắt mấy năm gần đây đều là “bắt nguội”, “bắt vét” khi chính họ vì lý do này lý do khác, đã không còn lên tiếng hay hoạt động gì nữa một thời gian.

Mới đây nhất là 2 trường hợp liên quan đến trang Facebook Nhật ký yêu nước mà admin của trang này, Phan Tất Thành cũng đã ngừng hoạt động khá lâu nhưng vẫn bị bắt và mới bị Tòa Án Nhân dân TP.HCM ngày 8/5 vừa qua kết án 8 năm tù giam. (Trang Nhật ký yêu nước là một trang từng được nhiều người Việt, nhất là giới trẻ, biết đến rộng rãi qua những bài viết phản ánh hiện tình Việt Nam và qua những lần kêu gọi thành công sinh viên, học sinh xuống đường biểu tình chống Trung Quốc ngay từ những năm 2007, 2008. Sau này trang vẫn còn hoạt động nhưng không nổi như trước). Một thành viên khác, Nguyễn Văn Dũng tức Dũng Aduku thì từ nhiều năm nay rồi thường xuyên bị công an xách nhiễu, truy đuổi, o ép, không thể làm được việc gì để mưu sinh mà không bị phá, đến mức cuối cùng phải chọn cái chết (và nguyên nhân thực sự của cái chết này vẫn chưa rõ. Chỉ biết rằng sau khi bị công an Phú Thọ tạm giữ và thẩm vấn 4 ngày từ 22/4-26.4 rồi thả ra, thì chỉ sau đó một ngày, Dũng đã tìm đến cái chết). Trước đó nhiều năm Dũng đã từng bị công an gài bẫy và bị tù với một tội danh không được hay ho, nhằm bôi xấu anh.

Nhìn lại trong suốt những năm qua, tất cả những người đã từng lên tiếng chỉ trích nhà nước Việt Nam đều phải trả giá rất đắt, nếu không phải chịu những bản án tù nặng nề thì cũng bị mất công ăn việc làm, mất sự nghiệp, gia đình ly tán, bị chặn đường mưu sinh, đi làm ở đâu, sống ở đâu cũng không yên, hoặc phải rời nước sống lưu vong. Một thủ đoạn thâm độc khác nữa của công an là dựng chuyện bôi nhọ, bôi bẩn hình ảnh của những người bất đồng chính kiến, những nhà hoạt động; hoặc gây ly tán giữa người này với người kia…Và như đã nói ở trên, nhà cầm quyền đê hèn đến mức nhiều năm sau vẫn còn truy đuổi, bắt bớ họ.

Trong một xã hội độc tài mà bộ máy công an, an ninh chìm nổi, dư luận viên dày đặc này, Nguyễn Văn Dũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé. Cái chết của Dũng rồi cũng sẽ bị quên đi như hàng triệu cái chết oan khiên đủ kiểu của người dân Việt Nam, ngay cả sau khi đất nước đã ngừng tiếng súng chiến tranh - những cái chết trong thời bình: Từ những cái chết vì vượt biển thập niên 70, 80, 90 của thế kỷ XX cho tới chết trong thùng container đông lạnh, trên đường xuyên rừng, trên xuồng cao su khi người dân tiếp tục vượt biển đi tìm một cuộc sống bình an, no đủ hơn; chết vì tai nạn lao động, vì làm việc quá sức như nô lệ, vì bị chủ đánh đập hoặc bị bạo hành tình dục khi đem thân đi làm thuê, làm vợ, thậm chí làm gái ở nước ngoài; chết vì bị công an bạo hành trong đồn, chết vì bệnh tật, vì điều kiện giam giữ khắc nghiệt trong những nhà tù của nhà nước cộng sản Việt Nam… Cuối cùng là không thiếu những cái chết do con người bị dồn đến đường cùng mà thỉnh thoảng chúng ta lại đọc/nghe thấy qua báo chí hoặc qua mạng xã hội: người thì tự thiêu vì bị cưỡng chế đất đai mất hết nhà cửa, người thì tự tử vì quẫn bách, đói kém, nợ nần…Và bây giờ là một cái chết vì bị “khủng bố tinh thần” như Dũng Aduku.

Có thể có những quốc gia mà một vụ tham nhũng lớn đã đủ sức làm cho cả dân tộc phẫn nộ đứng lên đòi thay đổi chế độ thối nát, tham nhũng đó.

Có thể có những quốc gia mà những vụ thanh trừng, “tiêu diệt” lẫn nhau của đám quan chức cấp cao làm cả chế độ phải sụp đổ.

Có thể có những quốc gia mà cái chết oan ức của một người dân dưới bàn tay của công an, quan chức đủ để tạo ra cả một cuộc cách mạng.

Nhưng ở Việt Nam thì khác.

Những vụ án tham nhũng với mức độ ngày càng kinh khủng, ngày càng vô đạo đức, dường như chỉ làm cho người Việt quen đi, sự phẫn nộ cũng chỉ trong giây lát.

Những vụ thanh trừng, hãm hại nhau cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, dường như chỉ làm cho người Việt hào hứng theo dõi như xem những vở bi-hài kịch.

Đối với những cái chết oan ức cũng vậy, người Việt cũng quen đi…

Bao giờ thì những sự bất công, bất bình thường ấy mới thôi được xem là “bình thường”, rằng “cái nước mình nó thế”?

28 tháng 4 2024

Không Phải Chỉ Tham Và Dốt, Mà Là Cố Tình Phá Hoại

27.4.2024 - Song Chi

Lãnh đạo Sài Gòn tham, dốt nên chặt bỏ những hàng cây rợp bóng mát khiến Sài Gòn đã nóng càng thêm nóng, hay đây chỉ là một trong những sự cố tình phá hoại thành phố này? Vì như nhiều người cũng nhận xét, trước kia tại những con đường có bóng mát việc kinh doanh cũng sầm uất hơn, người đi lại nhộn nhịp hơn, khách du lịch cũng thích thú đi dạo, còn bây giờ ngay cả những đại lộ khu trung tâm như Nguyễn Huệ, Tôn Đức Thắng…cứ vào những giờ nắng lên cao là vắng ngắt. 

Về kinh tế thì xem Sài Gòn như con bò để vắt sữa, làm ra bao nhiêu tiền phải đóng vào ngân sách tới 82% rồi 79% (trong khi có những thành phố chả đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào ngân sách quốc gia thì tối ngày xây cổng chào, tượng đài tiền tỷ để “ăn”); hạ tầng cơ sở thì không xây dựng, không những thế còn phá. Phá nát tất cả những gì thuộc Sài Gòn xưa, từ kiến trúc cũ, những địa điểm, địa danh lịch sử cho tới phi trường quốc tế Tân Sơn Nhứt cũng bị biến thành phi trường nội địa, rồi những hàng cây rợp bóng mát một thời lãng mạn của Sài Gòn…Không phải cố tình phá hoại thì là gì?

Cộng sản ở đâu cũng tâm địa nhỏ nhen giống nhau. Cứ nhìn Hong Kong, từ một làng chài nghèo qua tay người Anh đã trở thành một trung tâm tài chính thương mại quốc tế, một thành phố tự do, dân chủ, văn minh, hiện đại, âm nhạc, phim ảnh gì cũng đều phát triển (thập niên 50, 60, 70, 80 của thế kỷ trước các nước láng giềng trong đó có VN đều mê phim Hong Kong, diễn viên tài tử ca sĩ Hong Kong, hồi đó phim Hàn, nhạc Hàn làm gì đã “xuất hiện” đình đám như bây giờ). Vậy mà chỉ về với “đất mẹ” chưa tới 3 thập niên, toàn bộ sự tự do dân chủ của Hong Kong bị triệt tiêu, Hong Kong xuống về mọi mặt, bởi vì sau khi học hỏi những cái hay của Hong Kong một thời gian là Bắc Kinh siết lại, và chỉ tập trung đầu tư cho những thành phố lớn của đại lục như Thượng Hải, Thẩm Quyến…

Không chỉ Sài Gòn, miền Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long từng một thời trù phú, làm chơi ăn thật, không bao giờ biết đến hạn hán là cái gì, người nông dân Nam Bộ thông minh biết thuận theo thiên nhiên, mùa nào thì trồng cây gì, nuôi con gì. Vào tay các lãnh đạo duy ý chí, dốt nát, đem những bài học xử lý đê điều các thứ của vùng đồng bằng sông Hồng áp dụng vào miền Tây, làm đảo lộn hệ sinh thái sông Mekong và đồng bằng sông Cửu Long gây bao nhiêu thiệt hại, hạn hán ngập mặn bắt đầu xảy ra, cộng thêm việc Trung Cộng, Lào, Campuchia xây các đập thủy điện gây tác hại thêm mà không thấy Việt Nam có những động thái mạnh mẽ gì hoặc lo có kế hoạch đối phó; đến vụ kênh đào Funan Techo đã rập rình từ mấy năm nay rồi bây giờ mới thấy Việt Nam bắt đầu chính thức lên tiếng, liệu có quá trễ?

Quan chức lãnh đạo từ trên xuống dưới chỉ lo vơ vét cho đầy túi tham, rồi lo đánh nhau giành ghế, có quan tâm đến chuyện gì khác đâu?

14 tháng 4 2024

Vụ án Vạn Thịnh Phát – kết thúc phiên tòa có phải là đã hết?

Thứ Sáu, 04/12/2024 - 10:09 — Song Chi

Sống dưới chế độ độc tài toàn trị do một đảng cộng sản cai trị suốt nhiều thập niên, có lẽ chúng ta cũng nên luôn luôn tỉnh táo để tự nhắc mình và nhắc nhau rằng tất cả những gì được phơi bày ra trên bề mặt, và trên truyền thông, không bao giờ là sự thật 100%. Ngay cuộc chiến “đốt lò” chống tham nhũng lâu nay cũng vậy. Báo chí truyền thông nhà nước chạy hết công suất đưa tin với nhiệm vụ đã ngầm được đảng chỉ thị, nhằm tạo tính chính danh cho đảng, củng cố niềm tin của dân đối với chế độ (giả dụ, nếu còn được một mẩu vụn lòng tin nào sót lại). Đảng cộng sản luôn nói rằng chống tham nhũng không có “vùng cấm”, nhưng ai cũng thừa biết, là có “vùng né”. Chống đến đâu thì né, thì chừa. Thổi phồng những sự việc này, trút hết lên đầu nhân vật kia nhưng lại lờ đi, giấu biệt những chi tiết khác, nhân vật khác ở trong bóng tối, ở trên cao. Và khả năng lũng đoạn báo chí của nhà cầm quyền để dẫn dắt dư luận đi theo hướng mà họ muốn, với mục đích gì chỉ có họ biết, là…vô đối.

Đừng quên những vụ án đình đám như Năm Cam, Tăng Minh Phụng…trước kia, nhiều người cũng đã nói Năm Cam, Tăng Minh Phụng thật ra là chết oan, tội của họ không đến mức phải tử hình.

Vụ án Vạn Thịnh Phát này bà Trương Mỹ Lan dứt khoát không oan. Nhưng thể chế nào đã tạo ra Trương Mỹ Lan, những nhân vật cụ thể nào đã tạo ra, đã ăn chia, đã che chắn, đã hưởng phần lớn số tiền bị thất thoát trong bao năm? Và những cái chết bí ẩn bao quanh vụ án này: Trước hết là cái chết của hai nhân vật được bà Trương Mỹ Lan khai trước tòa là đã đích thân vận động bà Lan đứng ra hợp nhất 3 ngân hàng--ông Trần Minh Tuấn, Phó Thống đốc của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 1998-2013 và ông Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, cựu Thứ trưởng Bộ Công an. Cả hai người trước kẻ sau, đều mất vào khoảng tháng 2/2014. Khi lời khai của Dương Chí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines trong một vụ án khác, có nhắc đến việc chính ông này đã đưa cho tướng Ngọ số tiền 1 triệu USD từ bà Lan thì một ngày sau ông Ngọ chết tại Bệnh viện, còn ông Tuấn mất trước đó khoảng 1 tuần. Rồi khi vụ án Vạn Thịnh Phát đang trong giai đoạn điều tra thì 3 nhân vật có liên quan là ông Nguyễn Tiến Thành, Chủ tịch Chứng khoán Tân Việt, thành viên Hội đồng Quản trị độc lập của ngân hàng SCB; bà Nguyễn Phương Hồng, trợ lý Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát nhưng đồng thời cũng là thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng SCB; Ông Nguyễn Ngọc Dương, Giám đốc Công ty Sài Gòn Penninsula, kiêm cựu Tổng Giám đốc Công ty Vạn Phát Hưng, cả ba đều “đột ngột qua đời”. Chưa kể 5 bị cáo là cựu lãnh đạo, cán bộ ngân hàng SCB đang bỏ trốn, và đang bị truy nã. Hay ông Lê Thanh Hải, nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, người đã giúp cho bà Lan thâu tóm hàng loạt khu đất vàng tại Sài Gòn, nhưng đến nay vẫn an toàn.

Và có đúng bà Lan là chủ mưu hay chỉ là công cụ, cho dù là một công cụ hết sức quan trọng--nhờ vào những mối quan hệ rộng rãi với bạn bè, đối tác trong và ngoài nước, khả năng huy động vốn v.v…? Nguồn tiền bà Lan chuyển ra bên ngoài hay nguồn tiền của các đối tác bên ngoài rót vào các cơ sở bất động sản “khủng” của tập đoàn Vạn Thịnh Phát, đường dây của nó có dẫn đến tận những nhân vật nào đó ở nước láng giềng? Rồi mấy chục ngàn nạn nhân gửi tiền vào SCB sẽ được giải quyết ra sao?

Sơ sơ như thế để thấy vụ án còn quá nhiều điều khuất tất, chưa rõ ràng, chưa thể kết thúc. Và do đó tử hình bà Trương Mỹ Lan chẳng khác nào hành vi bịt đầu mối.

Liệu bà Lan, đằng nào cũng mất hết rồi, có dám khui ra cho toàn dân tỏ tường những gì bà biết được, những mảng tối phía sau (nhưng ngay chính bà, cũng chưa chắn đã biết hết)? Hay bà Lan, cũng như hàng ngàn, hàng vạn bị cáo bị xử trong vô số vụ án công khai hoặc những cựu quan chức bị cho về vườn “làm người tử tế”, tệ hơn, bị “cho đi tàu suốt”…sẽ mãi mãi im lặng để đổi lấy sự an toàn cho gia đình, con cháu?

Một lần nữa, chúng ta càng thấy rõ, dưới chế độ này, những gì được phơi bày ra thì chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh, đảng muốn cho người dân thấy cái gì, tới đâu thì người dân chỉ được thấy tới đó. Cũng như vụ ông Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, người dân cũng chẳng được biết ông ta sai phạm những gì, mức độ ra sao.

Chừng nào còn thể chế độc tài toàn trị do một đảng cộng sản-mafia-khủng bố cai trị, thì chừng đó tham nhũng vẫn còn, những vụ đại án tham nhũng sẽ tiếp tục được khui ra với mức độ ngày càng kinh khủng (cho tới khi vì những lý do khác nhau, các nhân vật quyền lực nhất của đảng quyết định dừng “đốt lò”), sự minh bạch, công khai, công bằng từ đưa tin, điều tra, xét xử…vẫn còn là giấc mơ. Quan trọng nhất, người dân vẫn tiếp tục là nạn nhân và là người ngoài cuộc của tất cả những vở đại bi-hài kịch mà cái giá phải trả vô cùng đắt đỏ đó.