Hiển thị các bài đăng có nhãn Nước Việt mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nước Việt mới. Hiển thị tất cả bài đăng

15 tháng 4 2024

Đổi Tên Làng, Tên Xã Là Xoá Ký Ức, Xoá Lịch Sử, Hủy Hoại Văn Hoá?

13.4.2024 - Chu Mộng Long

Thú thực, tôi chẳng hưởng ứng những cải cách đèn cù, nhập rồi tách, tách rồi nhập từ tỉnh, thành đến huyện, xã. Mỗi lần khắc nhập, khắc xuất như vậy vừa tốn ngân sách, vừa tốn công sức của nhiều người, từ xây dựng bộ máy nhân sự đến khuôn dấu và các loại tờ khai. Đời sống thay đổi, việc tái cấu trúc từ xã đến huyện, tỉnh thành là cần thiết, nhưng trong bối cảnh hiện tại, nhiều khi lợi bất cập hại.

Tuy nhiên, nói tách nhập dẫn đến đổi tên làng, tên xã là xoá ký ức, xoá lịch sử, hủy hoại văn hoá, có người còn quy kết "dã man hơn giặc" là cách nói vống. Nhập xã với tư cách đơn vị hành chính. Làng vẫn là làng truyền thống, chẳng ai dở hơi nhập làng. Nhiều phản đối tưởng hiểu biết nhưng rất thiếu hiểu biết.

Tôi thách các sĩ phu mang danh nhà văn hoá, nhà lịch sử chứng minh rằng mỗi lần thay đổi làng, xã, huyện, thị, thậm chí thay đổi tên nước là xoá hẳn ký ức về lịch sử, văn hoá của địa phương hay quốc gia, dân tộc và dẫn đến mất làng, mất nước? Thử tra sách sử và địa chí xem, các triều đại từng đổi tên làng, tên xã... thậm chí đổi cả tên nước bao nhiêu lần, và những làng, xã..., nước ấy mất đi đâu? Cái tên Hà Nội có xoá kí ức về Thăng Long - Kẻ Chợ không? Tôi tin, tên gọi thành phố Hồ Chí Minh chẳng bao giờ xoá được kí ức về Sài Gòn - Gia Định. Hay là các sĩ phu sẽ bảo Văn Lang mất là do đổi thành Âu Lạc, Âu Lạc mất là do đổi thành Nam Việt, Nam Việt mất là do đổi thành Vạn Xuân, Vạn Xuân mất là do đổi thành Đại Cồ Việt rồi Đại Việt, Đại Nam? Và cái tên Việt Nam hiện nay đã xoá sạch ký ức, lịch sử và văn hoá 4 ngàn năm trước?

Lịch sử, văn hoá với giá trị đích thực ắt được lưu truyền và bảo tồn trong ký ức, không phải ở cái vỏ ngôn ngữ. Ngay cả cái vỏ ngôn ngữ cũng không dễ lãng quên. Làng tôi thời các ông tổ khai hoang, có tên là Bàu Cừ, sau "biến cải vũng nên đồi" mới đổi tên thành Đại Sơn. Nhưng ký ức về cái Bàu Cừ, Bàu Cạn, Bàu Sấu vẫn còn nguyên vẹn trong các thế hệ. Và bây giờ đến chữ Đại Sơn không còn ghi trên giấy tờ nữa, người dân địa phương vẫn gọi cái làng mình đang ở bằng những cái tên tổ tiên lưu lại. Mất đâu mà mất? Ký ức mà xoá được dễ dàng như các sĩ phu tưởng tượng thì chỉ có thể là một giống dân... mất trí.

Cái gọi là "văn hoá", "lịch sử" mà dễ dàng bị xoá, đó chỉ có thể, hoặc là thứ văn hoá, lịch sử giả, hoặc là những giá trị đã cổ hũ. Duy ý chí đòi bảo tồn những thứ giả tạo, cổ hũ ấy là vô cùng có hại. Nhiều quốc gia, dân tộc tự hào có bề dày truyền thống, đòi bảo tồn những thứ lạc hậu, giả tạo, các quốc gia, dân tộc ấy chỉ có thể chậm phát triển và rơi vào thiểu năng trí tuệ.

Vừa rồi Bình Định có cuộc toạ đàm đòi bảo tồn Nhà lá mái. Tôi có bài tham luận mang tính phản biện, nhưng rất tiếc không tham dự được, phải nhờ người trình bày thay. Nghe tường thuật rằng, đa số các ý kiến tỏ ra "bức xúc" khi nhà lá mái của dân đã "bị" ngói hoá, bê tông hoá hết. Họ nói mất nhà lá mái là mất linh hồn Xứ Nẫu! Khổ thân các nhà văn hoá, yêu văn hoá hơn yêu dân! Ý kiến của tôi, đơn giản là, việc ngói hoá, gạch hoá, bê tông hoá là niềm mơ ước của dân nghèo sau bao nhiêu đời phải sống trong nhà tranh vách đất. Các sĩ phu, các quan chức muốn thì cứ đập nhà bê tông của mình đi rồi trét đất, lợp tranh mà ở. "Bức xúc" đến mức bắt dân phải quay về sống với nhà tranh vách đất để gọi là "bảo tồn di sản", còn mình thì hưởng thụ nhà cao cửa rộng thì có lưu manh không?

Chính quyền mà nghe lời các thầy dùi văn hoá, dân có thể quay về cái thời ăn cám heo để bảo tồn văn hoá.

Nghe các bạn thuật lại rằng, tham luận của tôi bị lạc lõng giữa đám đông các nhà văn hoá. May mà tôi không tham dự trực tiếp để bị các sĩ phu quy kết cho cái tội là "dã man hơn giặc"!

Chu Mộng Long

ChuMongLong-01-01

ChuMongLong-01-02

ChuMongLong-01-03

14 tháng 4 2024

Vừa Phải Thôi Quý Vị

11.4.2024 - Lưu Trọng Văn

“Quỳnh Đôi khoa bảng thật nhiều
Như cơn trên rú, như diều trên không”.

“Bắc Hà: Hành Thiện; Hoan Diễn: Quỳnh Đôi”

Đó, Quỳnh Đôi đi vào ca dao, tục ngữ bao đời nay vậy đó.

Lúc đầu làng có tên là “Thổ Đôi Trang”, đến năm 1528, cụ Hồ Nhân Hy (đời Mạc) đổi tên thành làng Quỳnh Đôi nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cái tên Quỳnh Đôi liên tục đến hôm nay hơn 500 năm chứ ít ỏi gì.

Người Thổ Đôi, Làng Quỳnh, Quỳnh Đôi đầu thế kỷ 20 tự hào có 734 người đỗ tú tài và cử nhân, 4 Phó bảng, 7 Tiến sỹ, 2 Hoàng Giáp và 1 Thám hoa” không hổ danh là làng khoa bảng, trên cả nước.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, toàn Quỳnh Đôi có trên 52 thạc sĩ, 55 tiến sĩ, 16 phó giáo sư, 5 giáo sư, 3 viện sĩ khoa học quốc tế. Đó là chưa kể về chính trị, Quỳnh Đôi có 5 Ủy viên Trung ương trong đó có 2 Ủy viên Bộ Chính trị, 9 đại biểu Quốc hội, 15 Bộ trưởng, Thứ trưởng và tương đương...

Quỳnh Đôi là quê hương của các danh nhân lừng lẫy lịch sử Dân tộc:

- Hồ Phi Tích (1665 -1754): đậu Hoàng Giáp khoa Canh Thìn (1700) làm quan đến Thượng thư bộ Binh, bộ Hình, tước Quỳnh quận công.

- Hồ Xuân Hương (1772 - 1822): được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm

- Phạm Đình Toái: tác giả cuốn sách "Đại Nam - Quốc sử diễn ca",

- Hồ Tùng Mậu (1895 - 1951): (tức Hồ Bá Cự) Chí sĩ cách mạng

- Cù Chính Lan (1930 - 1951): Liệt sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, một trong 7 cá nhân đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam, được nhân dân gọi là "anh hùng đánh xe tăng".

Tại Quỳnh Đôi có Khu di tích Tôn vinh họ Hồ với tượng, đền thờ các danh nhân: Hồ Quý Ly, Hồ Thơm ( anh hùng Nguyễn  Huệ), Hồ Xuân Hương…

Ấy vậy mà uỷ ban ND huyện Quỳnh Lưu vừa có văn bản đòi bỏ tên Quỳnh Đôi văn hoá lịch sử ấy để sáp nhập với xã Quỳnh Hậu thành xã… Đôi Hậu.

Cuộc sáp nhập các địa danh đang làm xáo trộn văn hoá truyền thống Dân tộc. Và việc xoá bỏ tên xã Quỳnh Đôi là đỉnh điểm của sự tàn phá vô văn hoá này.

Một xã, huyện tồn tại bởi giá trị thương hiệu văn hoá của nó chứ không phải bới con số người và diện tích đất. Vatican không đủ tiêu chí là một quốc gia. Vậy thì sáp nhập vào đâu đó đi thưa các ngài!

LuuTrongVan-01-03-TuongHoXuanHuong
Tượng Hồ Xuân Hương ở Quỳnh Đôi

LuuTrongVan-01-04-TuongHoQuyLy

LuuTrongVan-01-05-LangQuynh
Làng Quỳnh

LuuTrongVan-01-06

LuuTrongVan-01-07
Mộ các danh nhân họ Hồ đóng góp cho Đất nước

13 tháng 4 2024

Nghịch Lý Ở Vinh: Hiếu Học Mà Không Đủ Trường Để Học

11.4.2024 - Nguyễn Ngọc Chu

1. KỶ LỤC KHÔNG MONG ĐỢI

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – Trường Quốc học Vinh thành lập ngày 01/9/1920, là trường danh tiếng thuộc bậc nhất của Bắc Trung Bộ trong nửa đầu và giữa thế kỷ 20, là nơi đào tạo ra nhiều hiền tài cho Thanh – Nghệ - Tĩnh.

Trường THPT thứ hai ra đời ở Vinh là Trường vừa học vừa làm Nghệ An, nay là trường THPT Hà Huy Tập, được thành lập ngày 22/12/1975, 55 năm sau trường Trường Quốc học Vinh.

Trường THPT thứ ba ở Vinh là Trường Cấp 3 Vinh 2 thành lập năm 1976, năm 1977 mới đi vào hoạt động, năm 1979 đổi tên là Trường Cấp 3 Vinh 3, nay là Trường THPT Lê Viết Thuật.

Như vậy từ năm 1976 đến nay là 48 năm, thành phố Vinh không có thêm một trường THPT công lập nào! Dân số thành phố Vinh hiện thời khoảng 400 000 ngàn người, nhiều gấp ít nhất 4 lần so với năm 1976. Vinh có 6 trường THPT dân lập nữa. Nhưng 48 năm không mở thêm trườngTHPT công lập nào, thì chắc chắn Vinh lập kỷ lục quốc gia, đứng vị trí số 1 trong các thành phố về chậm phát triển trường THPT công lập. Đây là kỷ lục buồn cho Vinh. Không chỉ là kỷ lục buồn, mà đang mang đến cho người dân Vinh một “thảm hoạ giáo dục”: 

Năm học 2024-2025, toàn thành phố vinh có khoảng 6000 học sinh tốt nghiệp THCS, sẽ phải bước vào cuộc quyết đấu “mất còn” để tranh 2600 chỗ học tại 3 trường THPT công lập nêu trên.

Tỷ lệ quyết đấu 2,3 chọn 1, tương đương với tỷ lệ thất bại là 57% là một áp lực vô cùng lớn cho các cháu học sinh. Càng không tốt khi rơi vào tuổi vị thành niên. Tuổi vị thành niên là thời gian cần tránh những áp lực tâm lý. Bởi đó là quãng thời gian định hình phát triển mà một tác động nhỏ về tâm lý cũng có thể gây ra sự đổi hướng phát triển, trong trường hợp không may là về hướng tiêu cực. Đối với các em học sinh THCS thành Vinh, thi vào THPT còn áp lực hơn nhiều so với thi tốt nghiệp THPT, hơn cả vào đại học và tốt nghiệp đại học. Nhưng áp lực không chỉ học sinh mà áp lực cho cả phụ huynh, cho toàn bộ gia đình và cho toàn bộ thành phố.

Tại sao lại có một kỳ thi áp lực đến quái gở như vậy giữa chặng đường phổ cập giáo dục 12 năm? Lại ở vào tuổi vị thành niên 15 -16? Phải xoá bỏ càng nhanh càng tốt kỳ thi từ THCS lên THPT.

2. HAI MỤC TIÊU QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM

a/ Phổ cập giáo dục hết THPT

Sau cách mạng tháng Tám, xoá nạn mù chữ là một trong ba mục tiêu then chốt “diệt giặc đói” ‘ diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm” của nước ta. Sau đó giáo dục bắt buộc ở nước ta là đến THCS. 

Nhưng hai thập niên gân đây, loài người đã đạt được những tiến bộ vượt trội về công nghệ và khoa học kỹ thuật ngoài sự tưởng tượng và thời đại đã ở giai đoạn mà kiến thức của giáo dục mức THPT trở thành sơ đẳng.  Yêu cầu giáo dục THCS đã không còn phù hợp. Phải phổ cập giáo dục THPT. Tốt nghiệp THPT ở thời đại ngày nay thì cũng chỉ như xoá nạn mù chữ năm 1945. 

Với việc phân ban từ THPT và đúng đắn hơn, quyết liệt hơn và phải sớm hơn là chọn môn học theo yêu cầu ngay từ THCS, thì vấn đề trường chuyên và học nghề đã được giải quyết.

b/ Miễn phí giáo dục phổ thông

Giáo dục phổ thông hết THPT phải được miễn phí.

Cụ Hồ đã từng có ham muốn tột bậc là “ai cũng được học hành”. Nhiều nước TBCN mà trước đây từng bị phê phán là “bóc lột” “xấu xa” thì đã miễn phí giáo dục phổ thông. Nước ta xây dựng CNXH tốt đẹp nhưng lại không chịu miễn phí giáo dục phổ thông, nên ham muốn tột bậc của cụ Hồ “ai cũng được học hành” vẫn còn chưa đạt được.

Có phổ cập giáo dục THPT hay không, Giáo dục phổ thông hết THPT có được được miễn phí hay không phần lớn phụ thuộc vào vai trò người đứng đầu là Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Hãy nhìn lại quá khứ, vào những năm khó khăn nhất, để thấy các Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên đã đề xuất bỏ thi, miễn phí giáo dục như thế nào mà học tập. 

Phổ cập giáo dục THPT và miễn phí giáo dục phổ thông là những vấn đề lớn đòi hỏi thời gian để giải quyết, nhưng làm cho kỳ thi từ THCS lên THPT không còn mảy may áp lực lại “dễ như trở bàn tay”. Chỉ là ông Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có quan tâm đúng mức hay không mà thôi.

3. TỶ LỆ DÂN LẬP VÀ CÔNG LẬP

Vào đầu những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, khi mở cửa cho giáo dục, các trường dân lập ồ ạt ra đời.

Việc thành phố Vinh chỉ có 3 trường THPT công lập, không xây thêm, có lẽ một phần nguyen do là “dồn lợi thế cho các vùng khó khăn phát triển trường công lập, còn Vinh có điều kiện hơn, nên để cho trường dân lập tự phát triển, gánh vác bớt một phần trách nhiệm”. Không biết suy nghĩ này có đúng với tư tưởng của lãnh đạo nghành giáo dục Nghệ An trong quá khứ hay không? Nhưng dầu sao thì cũng nên dành một suy nghĩ tích cực, hơn là “vạch lá tìm sâu” vì sự đã rồi.

Cũng chính vì sự ra đời của các trường dân lập, không chỉ ở bậc phổ thông, mà nhiều hơn là ở bậc đại học, dẫn đến một quy tắc bất thành văn, là “nhường” học sinh cho các trường dân lập. Tỷ lệ xoay quanh con số 3-7. Nghĩa là các trường công lập chỉ lấy khoảng 70% học sinh có nhu cầu, để lại 30% cho các trường ngoài công lập.

Ngược với các nước TB phát triển, khi trường ngoài công lập có dịch vụ và đào tạo tốt với  học phí cao, nên thu hút nhóm có năng lực nhất trong số các học sinh muốn nhập học, thì ở nước ta, các trường dân lập có cơ sở vật chất yếu, đội ngũ giáo viên ít, đành phải thoả mãn với phân khúc cuối của dòng chảy khách hàng.

Từ năm 1976 đến thời điẻm hiện tại Vinh chỉ có 3 trường THPT công lập. Nhưng ở Vinh còn có 6 trường dân lập, 2 trường Dân tộc nội trú, và 2 trường chuyên. Cho nên, nhiều người (bao gồm không ít lãnh đạo) cho rằng ngoài 2600 học sinh THCS vào 3 trường THPT công lập, thì 3400 học sinh còn lại sẽ học tập ở 6 trường dân lập. Thế là vẫn “đủ chỗ”, chứ không “thất học”.

Nhưng yêu cầu của học sinh và phụ huynh rất khác vớ khái niệm đủ chỗ học vừa nêu. Vấn đè không phải cộng tất cả các chỗ của tất cả các trường THPT trên toàn tỉnh, rồi chỉ ra là không thiếu chỗ. Mà phải hiểu răng, trong giai đoạn hiện nay, thì tuyệt đại đa số phụ huynh muốn cho con vào học trường công lập. Không chỉ là học phí thấp hơn, mà quan trọng là danh thế. Công thức bất thành văn 3-7 (hay tương tự) giữa dân lập và công lập không phù hợp với thực tiễn.

Dân lập là các trường phải trả học phí cao. Nhóm này liên quan đến tài chính của người giàu có. Và có thể dự báo được trong khoảng 3-5%. Nghĩa là, trường dân lập dẫu có chất lượng tốt thì cũng không thu hút quá 5% số lượng học sinh.

Nhóm thứ 2 là nhóm không thích học, hay chưa thể hiện năng khiếu, hay thích đi vào nghề sớm. Nhóm này cũng chỉ khoảng từ 5%-10%. 

Như vậỵ, tổng cả 2 nhóm là nhỏ hơn15%. Điều này có nghĩa là:

Trường công lập phải đáp ứng 100 % nhu cầu của học sinh muốn nhập học. Trong trường hợp xấu nhất thì cũng có ít nhất là 85% học sinh theo học ở các trường công lập. Chỉ không quá 15 % dành cho trường dân lập, chuyên, và dạy nghề.

Nếu theo công thức này, thì tối thiểu có 5 100 (85%) học sinh THCS của Vinh sẽ theo học ở các trường THPT công lập. Chỉ 900 học sinh (15%) theo học trường dân lập, chuyên và dạy nghề. Nhưng 3 trường THPT công lập nêu trên của thành phố Vinh đáp ứng chưa được 3000 học sinh. Còn hơn 3000 học sinh không có chỗ học trong trường THPT công lập.

Khác với các nước TBCN phát triển, nền công nghiệp Việt Nam ở mức sơ khai, nên xu hướng học nghề chưa phát triển vì cơ hội việc làm nhỏ. Đó là lý do mô hình trường vừa học vừa làm ở nước ta chưa thành công. Đó cũng là nguyên nhân, khiến chưa nhiều em muốn “chuyên nghiệp” ngay sau THCS. 

Với xu hướng miễn phí giáo dục phổ thông và phổ cập giáo dục THPT trên toàn quốc, thì gần như 100% học sinh sẽ theo học tại các trường công lập. Ở bậc phổ thông, vai trò trường dân lập sẽ bị thu hẹp lại. Vai trò của các trường dân lập chỉ có thể có được vị trí khá hơn ở giáo dục đại học, nhưng là ở thì tương lai.

Đưa ra các con số này, để đi đến kết luận rằng, giải quyết bài toán “thất học” sau THCS ở TP Vinh là phải có các trường THPT công đáp ứng 100% nhu cầu của học sinh, bất kể thành phố có bao nhiêu trường dân lập hay trường chuyên, trường học nghề.

4. GIẢI PHÁP

Nếu 3 600 học sinh THCS Vinh không vào được 3 trường THPT công, và không chịu theo học các trường dân lập, thì sẽ trở thành “mù chữ”. 

“Mù chữ” ở đây hiểu theo nghĩa tương đối, ở vị thế so sánh, chứ không phải là không biết đọc, biết viết. Khi yêu cầu tối thiểu của xã hội là A mà chỉ đạt B với B<A thì có nghĩa là không đạt chuẩn. Với tiến bộ công nghệ ở thời đại những năm 2020-2030, thì giáo dục đến bậc THCS là chưa “sạch nước cản”. Vậy nên, với các học sinh học hết THCS, muốn học lên bậc THPT mà không được học, thì cũng không khác gì “thất học” hay “mù chữ”. Đặt vấn đề như vậy để thấy tính cấp thiết của yêu cầu có chỗ cho tất cả học sinh muốn theo học hết bậc THPT. 

Tất cả những điều nêu trên dẫn đến câu hỏi làm thế nào để 6000 học sinh THCS Vinh được học hết bậc THPT ở các trường công?

Giải pháp là XÂY DỰNG THÊM CÁC TRƯỜNG CÔNG LẬP MỚI.

Không có đất để xây dựng trường ư? Không phải. Đất cho dự án, cho chung cư - vẫn bát ngát mênh mông.

Không có kinh phí ư? Không phải. Hàng chục ngàn tỷ đồng đang chảy vào những lỗ đen vô nghĩa.

Không có giáo viên ư? Không phải. Hàng ngàn giáo viên đang chưa có việc làm. Hàng ngàn giáo viên mới nghỉ hưu sẵn sàng quay trở lại để giảng dạy. Đất nước có chiến tranh, người ta còn bắt lính ngĩa vụ đến tuổi 70.

Cái không có chính là sự quan tâm chưa đúng mức! Là sự coi nhẹ giáo dục mà đề cao thứ khác. Cái thiếu nữa là tầm nhìn và năng lực.

Đường 500 kv Bắc – Nam chỉ làm trong 2 năm. Xây mới thêm 3 trường THPT công lập ở thành phố Vinh  cho 12 000 học sinh cũng chỉ không quá 1 năm. Đây là bài toán không chỉ của Bí thư, Chủ tịch TP Vinh và Giám đốc Sở GD&ĐT Nghệ An. Đây còn là là trách nhiệm của lãnh đạo cao nhất của tỉnh Nghệ An.

Tiềm năng lớn nhất của Nghệ An là con người. Khi đất học mà thất học thì chẳng những có lỗi với tổ tiên, con cháu bị thua thiệt, chậm đường phát triển, mà đến thần linh cũng nổi giận quở trách.

5. TRÁCH NHIỆM CỦA BỘ GD&ĐT

Chúng ta đã phí phạm trí tuệ khi ra cho học trò những vấn đề vô cùng khó mà vô nghĩa, vì buộc học trò nát óc suy nghĩ, nhưng khi đến kết quả thì là điều đã biết trước nhiều năm. Giá mà cũng cái nát óc đó dành cho điều chưa ai biết, sẽ trở thành phát minh, sáng chế có lợi cho nhân loại. 

Chúng ta vần tiếp tục sai lầm khi bắt học sinh dồn sức để tham gia cuộc thi sinh tử, một mất một còn, từ THCS vào THPT, với thể thức nốc ao 2 lấy 1, 3 lấy 1, 4 lấy 1… Đó là những cuộc thi làm hao mòn trí tuệ, tinh thần và sức lực cho một mục đích vô nghĩa. Vì tốt nghiệp THPT là điều phổ cập giáo dục.

Cuộc đời con người phải đi qua các cuộc thi, các cuộc quyết đấu. Nhưng khác nhau ở chỗ, có người biết dành sức lực trí tuệ cho các cuộc quyết đấu quan trọng, cuộc quyết đấu cuối cùng. Là người thầy, dựng lên các cuộc thi chuyển cấp khắc nghiệt mà vô nghĩa, là có tội với học trò.

Tốt nghiệp THCS, tốt nghiệp THPT không phải là trận quyết đấu, càng không phải là trận quyết đấu một mất một còn. Hãy mở rộng cửa trường cho những ai muốn học. Tiếp thu nhiều, tiếp thu ít là tuỳ từng học viên, theo năng lực, và quan trọng hơn là theo suy nghĩ của học viên. Có người tưởng tiếp thu ít, thế mà thành công. Có người tưởng tiếp thu nhiều, thế mà thất bại.

Tài năng của con người phát triển không ngừng theo thời gian, suốt cả cuộc đời. Có người bộc lộ sớm. Có người thể hiện muộn. Có người gặp cơ hội. Có người không gặp thời. Lấy thước đo nhất thời phiến diện để loại bỏ sự nghiệp một đời của một số phận là bất công. 

Hàng chục triệu số phận nhiều thế hệ nối tiếp nhau phụ thuộc vào sự sáng suốt của Bộ GD&ĐT, nhất là Ông Bộ trưởng. Hãy xoá bỏ những kỳ thi vô nghĩa, trong đó có kỳ thi từ THCS lên THPT, để “ai cũng được học hành”. Hãy tạo ra môi trường giáo dục khai phóng, để mỗi cá nhân được tự do toả sáng.

Tham khảo

20 tháng 2 2024

Truyền giáo và quốc ngữ - Một thế kỷ quốc ngữ

 

Thử đặt giả thuyết: Nếu người Pháp bị một thế lực ngoại bang bắt buộc phải viết lại chữ Pháp bằng một ngữ tự khác, không phải ngữ tự La tinh (ngữ tự Ả Rập chẳng hạn), và thứ chữ Pháp mới này, sẽ là chữ quốc ngữ Pháp, do người ngoại quốc sáng chế ra mà không cần tới sự hướng dẫn của một người Pháp nào. Người ngoại quốc này có thể là ông Nguyễn Văn Mỗ, tương tự như ông Alexandre de Rhodes, chẳng hạn. Thì người Pháp sẽ nghĩ sao? Họ có tin được việc này không?

Tôi không nghĩ có người Pháp nào chấp nhận việc một người Việt đến Pháp ở vài năm, có thể sáng chế ra chữ mới cho người Pháp viết, làm tự điển cho người Pháp học, mà không cần sự giúp đỡ, của một người (Pháp) bản xứ nào.

Vậy mà việc này đã xẩy ra với chữ quốc ngữ Việt, và người Việt tin là thật, rằng chữ quốc ngữ hoàn toàn do người Âu sáng tạo, ông tổ là người Pháp Alexandre de Rhodes. Gần đây, xét lại, người ta đưa Francisco de Pina, người Bồ, lên làm tổ phụ chữ quốc ngữ. Tóm lại, cả hai "ông tổ" đều người Âu, không có người Việt nào cả.

Giả thuyết trên đây, dẫn đến câu hỏi thứ hai: Sau khi bị bắt buộc đổi chữ cũ sang chữ mới, tức là bị xoá sổ mười thế kỷ văn học, không đọc được Rabelais, Racine, Corneille, Voltaire, Rousseau, Balzac, Stendhal, Hugo, Baudelaire... nữa, thì người Pháp nghĩ gì?

Họ có hoan hô thứ "chữ quốc ngữ Pháp mới" này, đã "khai sáng" mở cửa cho họ vào một nền "văn minh mới" không? Chưa kể, nếu việc này xẩy ra vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (như ở nước ta), thì Marcel Proust sẽ viết A la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) bằng thứ chữ gì, hay là không viết gì cả?

Chúng tôi xin mạn phép trả lời: Không. Không có người Pháp nào hoan hô và chấp nhận điều đó. Nhưng họ đã làm cho người khác.

Và chúng ta, người Việt, đã (và còn) "hàm ơn" mãi việc chữ Việt được đổi từ chữ Nôm lạc hậu sang chữ Quốc ngữ tân tiến, giúp chúng ta tiếp thụ mau chóng văn hóa Tây phương.

Điểm này, cũng chỉ là ảo tưởng: bản thân chúng tôi, được học chữ quốc ngữ từ nhỏ, năm 18 tuổi sang Pháp du học, sống trên đất Pháp hơn 60 năm, mà đến nay 80 tuổi, hàng ngày vẫn còn phải học tiếng Pháp, đọc sách Pháp, nếu muốn hiểu chút ít về văn hóa Pháp. Chữ quốc ngữ (Việt) không giúp gì cho tôi trong việc tìm hiểu văn chương, văn hóa Pháp, vì hiển nhiên hai thứ chữ này chỉ có ngoại hình a, b, c... giống nhau, còn tất thẩy đều khác: biết đọc chữ quốc ngữ, không có nghiã là sẽ dễ học chữ Pháp, mặc dầu cả hai đều dùng ngữ tự La tinh.

Ngoài ra, trong việc phê bình, biên khảo, vì không biết chữ Hán, chữ Nôm, nên tôi không đọc được Khoá Hư Lục của Trần Thái Tôn, Bình Ngô Đại Cáo và thơ văn Nguyễn Trãi, không đọc được thơ thiền, không đọc được Kiều trong nguyên bản chữ Nôm, hay thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát... nói chi đến việc phân tích và phê bình văn thơ cổ điển của nước ta. Đối với người phê bình, đó là một sự tủi nhục. Khi về nước, tôi cũng không đọc được những gì viết trên văn bia chùa chiền, lăng miếu, không hiểu được gia phả tổ tiên. Không một nhà phê bình nào "hân hoan" chấp nhận việc họ không thể đọc và viết phê bình về mười thế kỷ văn học của nước họ.

Tình trạng mù chữ đó, chúng ta có từ nhỏ, rồi quen đi, không bàn đến nữa, thậm chí, những gì ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm, ta cho là "không phải chữ", không cần biết.

Sở dĩ có sự chấp nhận một chiều những gì người Pháp áp đặt cho chúng ta, mà không hề đặt câu hỏi ngược lại: nếu ta làm cho người Pháp điều đó, có được không? Bởi vì chúng ta sinh ra là người bị trị, không dám coi mình ngang hàng với người Pháp nói riêng và người Âu nói chung, luôn luôn "tưởng" người Pháp, người Âu là thày ta về mọi mặt.

 

Ai tạo ra chữ quốc ngữ?

Đã hơn một thế kỷ qua, người Việt chấp nhận việc "được học" chữ quốc ngữ như một ân huệ mà không hề phản bác, hoặc chỉ cãi cọ xung quanh vấn đề: ÔNG TỔ chữ quốc ngữ là người Bồ de Pina, hay người Pháp de Rhodes. Nhưng chưa từng đặt vần đề: Vậy ai dạy cho hai "ông tổ" câu tiếng Việt đầu tiên? Ai giải thích cho hai ông tổ cách phát âm và ngữ nghiã của mỗi tiếng Việt?

Tất nhiên không phải cậu bé được Alexandre de Rhodes nói đến trong ký sự Du hành và truyền giáo (Voyages et Missions) đã dạy ông ta tiếng Việt, mà không cần đến sự cộng tác của một hay nhiều người Việt, thông thạo tiếng mẹ đẻ.

Vậy mà chúng ta đã ngoan ngoãn chấp nhận "sự kiện" này. Thậm chí còn có những bài viết tựa đề: Tiếng Việt thời Alexandre de Rhodes. Coi de Rhodes không chỉ là "thuỷ tổ" của tiếng Việt, mà còn là một triều đại, một văn hào của nước ta.

Alexandre de Rhodes là ai? Đã làm gì cho nước Việt? Chúng ta sẽ dần dần tìm hiểu và cũng là một trong những mục đích của cuốn sách này.

Hiện nay, khuynh hướng cho rằng việc sáng tạo chữ quốc ngữ là công trình tập thể của một nhóm giáo sĩ: de Pina (Bồ), Borri (Ý), Amaral và Barbosa (Bồ) được nhiều người chấp nhận.

Từ năm 1972, linh mục Đỗ Quang Chính đã thiết lập đanh sách các giáo sĩ giảng đạo ở Việt Nam từ 1615 đến 1788, theo thống kê của Dòng Tên, gồm có: 74 người Bồ, 31 người Việt, 30 người Ý, 20 người Đức, 8 người Nhật, 5 người Pháp...[1].

Con số chính thức được ghi nhận ở đây: 31 giáo sĩ người Việt này không tìm thấy tên ở đâu cả, vì người Âu không có "truyền thống" nhắc đến tên người bản xứ, coi như 31 vô danh; chưa kể họ còn "cướp tên" hoặc tự tiện đổi tên tác giả; giáo sư Nguyễn Văn Trung từng nói đến tình trạng này trong môi trường công giáo:

"Từ điển mang tên Pigneau de Béhaine hay Taberd, nhưng chính những tác giả này thú nhận  vai trò chủ chốt soạn thảo là do linh mục Hồ Văn Nghị và Phan Văn Minh... Có lẽ, trường hợp Majorica thế kỷ XVII cũng vậy..."[2] [ý ông muốn nói tới bộ Truyện Các Thánh, truyện Nôm, không phải tất cả đều của Majorica viết ra, mà còn của nhiều tác giả [Việt] khác nữa].

Về cuốn tự điển được ghi là của Pigneau de Béhaine hay Bá Đa Lộc: chúng tôi chắc chắn Bá Đa Lộc không để lại cuốn tự điển nào, vì đã đọc kỹ lá chúc thư rất chi tiết của vị giám mục, ông ghi cả đến những vật dụng nhỏ nhất, cho ai, nhưng không thấy ông nhắc đến bản thảo một cuốn tự điển nào, trừ bộ từ điển bách khoa ông biếu vua Gia Long. Vì vậy, ta có thể đoán rằng: Taberd hoặc ai đó tìm thấy trong nhà dòng bản thảo tập tự điển do linh mục Hồ Văn Nghị soạn (cha Nghị là người thân tín của Bá Đa Lộc và vua Gia Long), đưa in dưới tên Pigneau de Béhaine, rồi cộng tác với linh mục Phi-líp-phê Phan Văn Minh[3] để bổ sung và hoàn chỉnh tập tự điển, sau gọi là tự điển Taberd.

Tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, cũng ở trong trường hợp tương tự: Gaspar d'Amaral và Antonio Barbosa, hai linh mục học giả Bồ, sống ở Đàng Ngoài sáu hay bảy năm, đã soạn hai cuốn tự điển giản yếu Việt-Bồ-La và Bồ-Việt, nhưng cả hai đều mất sớm. Alexandre de Rhodes dùng tác phẩm của họ và của "nhiều cha khác cùng Dòng Tên", việc này ông đã viết trong lời Tựa tự điển Việt-Bồ-La, nhưng, để đề cao một mình de Rhodes, các tác giả Pháp không nhắc đến, còn người Việt, hầu như không ai dùng tự điển Việt-Bồ-La (vì không biết tiếng Bồ và tiếng La), chỉ nhắc đến tên bộ tự điển này để vinh thăng de Rhodes là ông tổ chữ quốc ngữ.

 

Gia Định Báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên

Gần mười thế kỷ văn chương cổ điển của Việt Nam đã bị xoá sổ từ khi chúng ta dùng chữ quốc ngữ, cách đây hơn một thế kỷ.

Việc này, có vẻ như tự nguyện. Trong bài nghiên cứu tựa đề Gia Định Báo, Trần Văn Chi cho biết: Trương Vĩnh Ký được Phó Đô đốc Pierre Gustave Roze, quyền Thống đốc Nam Kỳ mời ra làm quan, sau khi ông từ Pháp về năm 1865[4], nhưng ông không nhận, mà xin được lập một tờ báo quốc ngữ:

"Petrus Ký từ chối và xin lập một tờ báo quốc ngữ mang tên là Gia Định Báo. Lời yêu cầu của ông được chấp thuận và nghị định cho phép xuất bản được ký ngày 1 tháng tư, nhưng không phải ký cho ông mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux, một viên thông ngôn làm việc tại Soái phủ Nam kỳ.

Tên gọi chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào năm 1867 trên Gia Định Báo.

Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ Tây bị lược bỏ khỏi tên gọi để chỉ còn là chữ quốc ngữ, có nghiã là văn tự tiếng Việt."[5]

Như vậy, kể từ khi chữ quốc ngữ bị ngủ quên trong các thư viện nhà dòng Âu Châu, từ giữa thế kỷ XVII, Trương Vĩnh Ký là người tiên phong tự nguyện xin cho thứ chữ này được xuất hiện trở lại, dưới hình thức tờ báo quốc ngữ đầu tiên.

Tuy nhiên, Pháp chưa cho ông làm chủ bút ngay, chủ bút phải là người Pháp, Trương Vĩnh Ký được chỉ định làm trợ bút trong ba năm[6]Trần Văn Chi viết tiếp:

"Và phải đến ngày 16 tháng 9 năm 1869 mới có nghị định của Phó Đô Đốc Marie Gustave Hector Ohier ký giao Gia Định Báo cho Trương Vĩnh Ký làm "chánh tổng tài " (tiếng Pháp: rédacteur en chef) nay gọi là giám đốc; Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Từ khi được bổ nhiệm làm Chánh Tổng Tài tờ Gia Định Báo (16-9-1869), Trương Vĩnh Ký có cơ hội để phát triển dịch thuật và viết văn bằng quốc ngữ (...). Thái độ truyền bá học thuật bằng ký tự La tinh này được ông thể hiện với Richard Cortembert ngay từ chuyến công du sang Pháp."[7]

Theo Nguyễn Văn Trấn:

"Đối với Trương Vĩnh Ký, chuyến đi nầy là sự kiện quan trọng nhứt đời.

Ở Penang là một khóa học Tám Năm.

Thăm Paris, lại là khóa học Tám Tháng"[8].

Tóm lại, trong chuyến đi Pháp (1863-1865) Trương Vĩnh Ký là thông ngôn của Soái phủ Nam kỳ, đã cộng tác với Richard Cortembert, để "thể hiện chương trình truyền bá quốc ngữ bằng ký tự La tinh".

Mặt khác, Trần Văn Chi còn cho biết: tờ Gia Định Báo số 4, (do Huỳnh Văn Tòng tìm thấy ở Pháp) lại ghi: phát hành ngày 15-7-1865, tại Trường Sinh Ngữ Đông Phương, Paris[9].

Như vậy, ta có thể hiểu thêm rằng: Paris quyết định việc truyền bá chữ quốc ngữ. Trương Vĩnh Ký chỉ là người thừa hành.

Gia Định Báo ban đầu chỉ đăng những thông tin của chính phủ Pháp. Sau khi Trương Vĩnh Ký lên làm tổng tài, có thêm phần dịch thuật và biên khảo.

Trần Văn Chi viết: "Đến năm 1882, chữ quốc ngữ được dùng làm văn tự chính thức (...) các quan địa phương phải học chữ quốc ngữ (...) Tới năm 1918, quốc ngữ trở thành chữ viết bắt buộc ở Bắc Kỳ"[10], và ông nhận định: "Gia Định Báo đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình" (sau gần nửa thế kỷ tồn tại, từ 15-4-1865 đến 31-12-1909)[11]. Sứ mạng này gồm 6 mục tiêu:

1- Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà (lời Trương Vĩnh Ký).

2- Gia Định Báo dùng [để] loại bỏ văn hóa Trung Hoa.

3- Gia Định Báo dạy viết nhựt trình.

4- Gia Định Báo dùng làm sách giáo khoa.

5- Gia Định Báo đào tạo công chức.

6- Gia Định Báo dạy viết văn xuôi.

Trần Văn Chi viết: "Lợi ích và vai trò của quốc ngữ còn được ông [Trương Vĩnh Ký] nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học), 1876, như sau:

"Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này."[12]

Một thế kỷ sau, Nguyễn Văn Trung coi việc "phổ biến" này là một "điều đáng tiếc":

"Dĩ nhiên không bỏ qua việc sáng chế ra chữ viết theo mẫu tự La tinh, nhưng không nên đề cao nó quá đáng bằng cách gán cho nó những vai trò giáo dục văn hoá vượt khỏi những khả năng của nó. Bây giờ nhìn lại diễn tiến lịch sử gần đây mới thấy được những hạn chế của nó đến nỗi có thể nói xét về mặt nào đó, sự thành công trong việc phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ đã là một điều đáng tiếc."[13]

Từ khi chữ quốc ngữ trở thành "chữ viết của nước nhà", phần đông người Việt không đả động đến tảng Hán Nôm nữa, coi như "tử ngữ" chết mòn trong các thư viện cổ. Tai hại hơn, hầu như chúng ta đều tưởng rằng: văn chương Việt Nam chỉ bắt đầu với chữ quốc ngữ.

 

Việc khai quật lại di sản chữ Hán

Phải gần 100 năm sau, khoảng 1960, việc dịch các sách lịch sử, biên khảo và văn thơ Hán Nôm mới bắt đầu trở lại, ở Viện Sử Học, Viện Hán Nôm và Viện Văn Học, ngoài Bắc. Trong Nam, trước 1975, việc dịch thuật, không có gì đáng kể.

Để hiểu những khó khăn này, ta cần nhìn qua thời gian thực hiện vài bộ sách chính:

Về lịch sử, bộ Đại Nam Thực Lục, Viện Sử Học bắt đầu dịch từ 1962 đến 2012, mới in xong.

Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, dịch và in từ năm 1985 đến 1992.

Về văn thơ, Viện Văn Học dịch và in ba tập Thơ văn Lý Trần, từ 1977 đến 1988.

Năm 1974, Đào Duy Anh, trong bài tựa sách Khóa Hư Lục, viết: "Trong thư viện Khoa học xã hội hiện còn 11.795 cuốn sách Hán Nôm, gồm 10.609 cuốn sách chữ Hán (chỉ sách chữ Hán của Việt Nam) và 1.186 cuốn sách Nôm"[14].

Những sách này đã dịch được bao nhiêu cuốn? Chúng ta không biết rõ.

Một thí dụ: Cuốn tiểu thuyết lịch sử Nam Triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm viết về các chúa Nguyễn, mà Lê Quý Đôn, Đại Nam Thực Lục, Liệt Truyện, Cương Mục, đều phải dựa vào, tác phẩm này tương đương với Hoàng Lê nhất thống chí, viết về chúa Trịnh vua Lê, nhưng ra trước Hoàng Lê nhất thống chí gần một thế kỷ; mà mãi đến năm 2003, mới có bản dịch hoàn chỉnh[15]. Chưa kể giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, có lần cho tôi biết: thời trẻ, ông đã phải gián đoạn việc học trong nhiều năm vì lý lịch (ông là cháu nội cụ Ngô Đức Kế), sau lại gặp khó khăn trong việc dịch thuật các sách về nhà Nguyễn. (Như ta đã biết, khi Trần Huy Liệu làm Viện trưởng Viện Sử Học, nhà Nguyễn bị kéo xuống bùn).

Tóm lại, những khó khăn mọi mặt, đã tạo ra một khoảng trống sử học khổng lồ ở nước ta: trong hơn 100 năm, những người viết sử, vì không đọc hay không đọc được sách lịch sử và biên khảo chữ Hán, nên không tiến hành được việc nghiên cứu.

Vì thế, trong nửa đầu thế kỷ XX, chỉ có một cuốn Việt Nam sử lược (1920) của Trần Trọng Kim; nửa sau, có thêm Việt Nam Pháp thuộc sử (1961) và Việt sử xứ Đàng Trong (1969) của Phan Khoang. Đó là những sách sử đáng tin cậy. Trần Trọng Kim và Phan Khoang, đều biết chữ Hán, tham khảo sử của ta, nhưng Phan Khoang cũng đã tin vào lời các giáo sĩ thừa sai và sử gia thuộc địa về "việc cấm đạo" và "bế quan toả cảng". Thế hệ tiếp nối, như Tạ Chí Đại Trường, hoàn toàn viết theo sự chế biến của sử gia thực dân.

 

Di sản chữ Nôm

Nước ta có ba thời kỳ rực rỡ của nền văn học cổ điển:

- Thời Trần (thế kỷ XIII-XIV): Trần Cảnh (Thái Tôn) tác giả Khóa Hư Lục và Trần Khâm (Nhân Tôn, cháu nội), là tổ thứ nhất phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả hai bài phú Nôm xưa nhất còn lại, cùng các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, và các tác giả như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi... đều có thơ văn Hán Nôm để lại.[16]

- Thời Lê, tức thời Hồng Đức (thế kỷ XV), với thơ văn Lê Thánh Tôn, nhóm Tao Đàn, thi hào Nguyễn Trãi; Quốc Âm thi thập chứng tỏ Nguyễn Trãi đã làm "thơ tự do" từ thế kỷ XV.

- Triều Nguyễn, là thời kỳ cực thịnh của văn học, với Cung Oán, Chinh Phụ, Hoa Tiên, Tây Hồ Phú, Truyện Kiều, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát...

Hoàng Xuân Hãn nhận dịnh: "Cuối đời Trịnh, đầu đời Nguyễn là thời kỳ văn quốc ngữ [Nôm], văn Việt Nam cực kỳ thịnh. (...) Tiếng quốc ngữ được nổi lên, có nhẽ từ thế kỷ XVII, cho đến đời Minh Mạng. Quãng ấy là thịnh nhất."[17]

Truyện Kiều là mỏ vàng ngôn ngữ dân tộc, bản thân tác phẩm đã là một "ngôn ngữ" riêng trong tiếng Việt, nhưng phải đọc được chữ Nôm, loại chữ tượng hình, mới thấy hết những khía cạnh biến hóa của mỗi chữ trong Kiều. Đào Duy Anh đã làm từ điển truyện Kiều. Hoàng Xuân Hãn dành 50 năm soạn cuốn Kiều tầm nguyên, tìm lại những chữ đích thực Nguyễn Du viết ra[18]. Ông tìm lại văn bản không kỵ húy đời Gia Long, để xác định là bản xưa hơn cả, và xác định Nguyễn Du viết Kiều thời Tây Sơn. Ông dùng 8 bản Kiều in đời Tự Đức, so sánh từng chữ một, xét lai lịch mỗi chữ, để phân biệt và xác định. Ví dụ, chữ gieo, trong "Vàng gieo bóng nước cây lồng bóng sân" và treo trong: "Giọt sương treo nặng cành xuân la đà".

Hoàng Xuân Hãn nói: "Phải biết chữ Nôm, phải hiểu tiếng Việt, phải hiểu tiếng cổ, nhiều khi lại tiếng địa phương là chuyện khác nữa, thì lúc ấy mới hiểu thấu được những chữ ấy. Bởi vì một người như cụ Nguyễn Du, không viết những câu mà nói rằng là viết cho qua chuyện đi, ta hiểu thế nào cũng được cả. Không phải thế. Cụ viết một cách chính xác lắm. Chỉ là mình đọc không đúng mà thôi."[19]

Việc làm của Hoàng Xuân Hãn không chỉ để tìm lại văn bản gốc, mà còn giúp chúng ta hiểu tiếng Việt thế kỷ XVIII của Nguyễn Du. Vì vậy, muốn hiểu tiếng Việt thế kỷ XV, cần có sự nghiên cứu văn bản học tương tự về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

Kiều tầm nguyên của Hoàng Xuân Hãn, mãi đến nay mới được Nhã Nam, sửa soạn xuất bản, nghiã là sau khi vị học giả qua đời (1996) 27 năm.

 

Tình hình nghiên cứu văn xuôi

Người Việt ngày nay không biết mình có bao nhiêu truyện ngắn, truyện dài, viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chưa được dịch hay phiên âm sang chữ quốc ngữ.

Vì không có truyền thống giữ gìn nguyên bản, nên mảng văn Nôm truyện ngắn, truyện dài của nước ta, nay đã thất truyền, một phần vì giới trí thức nho học coi thường văn Nôm nên không lưu trữ, hoặc có mà vẫn còn nằm trong tủ bụi của Viện Hán Nôm hay một thư viện công, tư nào khác, chưa được đọc đến.

Sở dĩ, chúng tôi tin là chúng ta có truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, như người Tầu, người Nhật, vì dựa trên hai dấu hiệu rõ ràng:

1- Bài tựa Thiền Tông chỉ nam ca của Trần Thái Tôn (tác phẩm này đã mất, nhưng bài tựa vẫn còn), đích thực là một truyện ngắn. Thái Tôn kể lại chuyện mình: Đêm 3 tháng tư năm Bính Thân (9-5-1236) (18 tuổi) bỏ cung điện, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Trần Thủ Độ phải đem triều đình lên ăn vạ, rước về. Tác phẩm đầy đủ tính chất của một tự truyện hiện thực, có giá trị lịch sử và ngụ ý sâu sắc triết lý đạo Phật: "Trong núi không có Phật, Phật ở trong lòng" qua lời vị thiền sư chùa Trúc Lâm Yên Tử khuyên nhà vua trẻ.[20]

2- Mảng truyện Nôm công giáo, là một kho tàng chưa khai thác. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, năm 1953, khi giúp thư viện quốc gia Pháp làm thư mục, đã viết bài "Girolamo Majorica, tác phẩm bằng tiếng Việt của ông được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Girolamo Majorica, ses oeuvres en langue vienamienne conservées à la Bibliothèque Nationale de Paris)"[21].

Linh mục Thanh Lãng, cuối đời, cũng tha thiết nhắc đến mảng truyện Nôm này: "Câu truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoặc Théodora (...) nằm trong bộ truyện viết bằng chữ Nôm dài 1.673 trang, gồm trên dưới 500 truyện mà truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoc Théodora chỉ là một truyện cụ thể rút ra từ khối 500 truyện kia". Bộ truyện này đã "được Majorica biên soạn trong khoảng thời gian từ 1632 đến 1638, tức là cách đây hơn 350 năm" tại Kẻ Rum (Nghệ An)[22].

Mới đây, qua điện thư, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho tôi biết: khoảng 2002-2003, ông có dịp tiếp xúc với linh mục Nguyễn Hưng ở Sài Gòn, người đã có cả bộ photocopy nguyên bản truyện Nôm và đang nhờ cụ Võ Văn Kính, một nhà Nôm học giỏi, phiên âm ra quốc ngữ. Nguyễn Huệ Chi mua được một số bản, cả Nôm cả quốc ngữ, nhưng sau khi về Hà Nội, ông được tin linh mục Nguyễn Hưng qua đời, nên công trình bị bỏ dở. Trong bài viết tựa đề "Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu", Nguyễn Huệ Chi cho biết những thông tin về bộ sách này:

"... Kho Truyện các Thánh    đồ sộ mà chứng tích xưa nhất hiện còn là bộ sách cùng tên do Jéronimo Maiorica (vị cha cố người Italia, 1591-1656) đứng tên tác giả, hoàn thành từ 1646, đến nay còn giữ được 4.200 trang (...) gồm nhiều truyện kể ly kỳ về sự tích các ông Thánh cả Tây lẫn Đông. Xét về thủ pháp, huyền tích Thiên chúa giáo được sử dụng ở đây cũng như các môtip kỳ ảo trong thể loại tiểu thuyết truyền kỳ Đông Á, nhằm minh họa con đường "xả thân đắc đạo" của những người một lòng theo Chúa Giêsu, giống hệt loại truyện "linh dị ký" của văn học Phật giáo Nhật Bản thời Cổ trung đại. Theo Linh mục Tiến sĩ Nguyễn Hưng thì "mỗi câu chuyện được coi như một đoản thiên tiểu thuyết... Nhiều truyện na ná như Tê-lê-mặc phiêu lưu ký. Nhiều truyện giống như truyện Đức Phật Thích Ca xuất hành ra bốn cửa thành. Không thiếu những truyện tương tự như truyện Phật bà Quan Âm Thị Kính.

Điều đáng nói là kho "Truyện các Thánh" không phải sau Maiorica thì chấm dứt mà còn được nối tiếp cho đến hết thế kỷ XIX, chẳng hạn bộ Sách Thánh   của cha Dominique Martigia thu thập và công bố năm 1848 cũng phải trên dưới 2.000 trang, hay bộ Sách truyện các Thánh     của cố Joseph Marie Bigollet Kính tổng hợp nhiều bộ sách trước đó và công bố năm 1905 cũng không dưới 1.500 trang... "[23].

Vậy, hiển nhiên chúng ta có kho truyện Nôm đạo rất lớn chưa được tìm hiểu, phân tích, và trình bày cho công chúng. Truyện Nôm đạo có thể coi là tiểu thuyết bình dân, gần với  tiếng nói, khác với ngôn ngữ văn chương của các thi hào.

Nhưng sách đạo, thường không được người ngoại đạo chú ý; tệ hơn, vì đã từ hơn một trăm năm nay, chúng ta không quan tâm đến chữ Nôm, vì nhiều người coi những gì không viết bằng quốc ngữ, không phải là văn học!

Thêm một định kiến sai lầm nữa, cho rằng: chỉ châu Âu mới có truyện ngắn, tiểu thuyết hư cấu. Không. Không phải vậy! Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là một kiệt tác hư cấu, vượt Don Quichotte của Cervantes trên nhiều phương diện. Khi chúng tôi hỏi học giả Hoàng Xuân Hãn về truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, ông bảo đó là một tiểu thuyết hiện thực xã hội tả chân rất kỹ như Balzac.

Nữ sĩ Murasaki Shikibu viết trường giang tiểu thuyết Truyện Gengi bằng chữ Nhật (tức là chữ Hán đọc thành tiếng Nhật) từ thế kỷ XII, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại, với giọng văn đầy chất thơ: "Ánh trăng mồng bảy khắc những tia nhợt nhạt trên gương hồ. Trong mùa buồn bã, nhánh cây mập mờ phủ lá, những giây hoa võng trên cây tùng hình thù đặc biệt, thân nghiêng, đỉnh cao chót vót, phô bày một quang cảnh quyến rũ khác thường"[24]Lối văn phong tinh tế tuyệt vời này đã ảnh hưởng sâu sắc đến Kawabata sau này. René Sieffert, dịch giả tiếng Pháp, tự hỏi có nên gọi Murasaki là Marcel Proust Nhật Bản hay phải gọi Marcel Proust là Murasaki Pháp?

Phải đợi đến khi nước Nhật trở thành một cường quốc, rồi tình trạng dịch thuật và giao lưu văn hóa mở mang hơn, thế giới mới đọc Truyện Genji và thấy giá trị của Murasaki.

Được như vậy, bởi vì người Nhật và người Tầu không bị đổi chữ viết, cho nên họ có một nền văn học và nghiên cứu cổ văn liên tục, không trải qua một trăm năm gián đoạn như chúng ta.

 

Đô hộ và quốc ngữ

Một trăm năm đô hộ đi cùng với một trăm năm chữ quốc ngữ, đã khiến chúng ta coi thường, khinh mạn, không tìm hiểu nền văn học cổ điển của tiền nhân.

Tôi lấy một thí dụ: Khoá hư lục (nghiã là: tu luyện về đạo hư không)[25] của Trần Thái Tôn là một kiệt tác văn-thơ-triết, chữ Hán, được dịch nhiều lần: Phúc Điền hòa thượng (thời Tự Đức), Thiều Chửu (1932-33), Đào Duy Anh (1974)... nhưng đọc vẫn khó hiểu, các dịch giả của Viện Văn Học sau này, cũng đã hết sức cố gắng, nhưng vì bản chất tác phẩm là thơ, thứ thơ cô đọng và hàm súc, ẩn nghiã triết học, mỗi chữ là một giếng sâu khó dò. Đào Duy Anh nhận định:

"Khóa Hư Lục không những là bộ sách quan trọng và xưa nhất chúng ta còn giữ được mà Trần Thái Tôn không chỉ là nhà tu hành đắc đạo mà là một nhà triết học sâu sắc và một nhà thi sĩ trữ tình dào dạt, chủ trương thanh tĩnh một cách rất sôi nổi xúc động. Tất cả các bài kệ đều là thơ, thơ thất ngôn, ngũ ngôn hoặc tứ ngôn; tất cả những bài khác đều là bài văn biền ngẫu chặt chẽ và đầy hình tượng."[26]

Chỉ mấy câu kệ:

"Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh"

Đủ thấy những cuồng phong vũ bão trong tim Trần Thái Tôn, thấy những sôi sục trong hình ảnh, đam mê trong tình ý, đảo điên trong vũ trụ, ngụ trong lời thơ của con người đã dẹp tan quân Mông Cổ, và cũng là người yêu tha thiết say mê... 

Đây mới chỉ là bản dịch của Ngô Tất Tố, mà đã "kinh hoàng". Cho nên, nếu không giỏi chữ Nho để đọc thẳng nguyên bản, chỉ đọc những bản dịch, tất không thể thấu hết được cái hay của Khóa Hư Lục, giống như ta đọc bản dịch thơ Đường sang thơ lục bát. Tôi đã phải đọc thơ Đường qua bản dịch từng chữ một của François Cheng, mới hiểu được cái hay và tính cách độc lập của mỗi chữ trong thơ Đường; nhưng vẫn không thấy được tính cách gợi hình trong mỗi chữ Hán. Bởi vì bản dịch là một tác phẩm lai: tác giả chỉ có một phần, lớn hay nhỏ, tùy tài năng người dịch, phần kia là chữ nghiã của dịch giả.

Cho nên, việc không đọc được nguyên tác chữ Hán, chữ Nôm, là một bất lực, một tàn tật của người phê bình, trước di sản tiền nhân.

Nếu người Pháp bị xoá sổ mười thế kỷ văn học cổ điển của họ thì Rabelais, sẽ không bao giờ được đọc, và các nhà phê bình lớn như Bakhtin (Nga), Spitzer và Auerbach (Đức) không thể tìm hiểu và giới thiệu ngôn ngữ Rabelais với thế giới.

Tội ác nhân loại mà Tổng thống Emanuel Macron nói đến trong chính sách thực dân chính ở chỗ đó: không chỉ giết người cướp lãnh thổ, mà còn tiêu diệt cả đời sống tinh thần, biến người bị trị thành vô học, vô cảm, trước di sản tiền nhân.

 

Mục đích của chính phủ Pháp

Khi Toàn quyền Doumer đến Đông Dương năm 1897, một trong những việc đầu tiên của ông ta là thăng viên khâm sứ Pháp ở Huế lên địa vị chủ trì Cơ Mật Viện thay vua, bằng dụ Thành Thái ngày 27-9-1897. Sau đó, tất cả các dụ khác, như dụ: bãi bỏ chức Kinh lược sứ của vua ở Bắc kỳ để thay bằng viên Công sứ Pháp; lệnh bắt buộc dạy chữ quốc ngữ ở Bắc kỳ; lệnh bãi bỏ thi Hương; lệnh đóng cửa các trường học chữ Hán, đều do triều đình Huế ký, tức là  họ đã mượn chữ ký của vua để thi hành những điều phản dân tộc.

Việc đổi chữ viết, từ chữ Nôm sang Quốc ngữ, nằm trong một chính sách cai trị khôn khéo, với bốn mục đích chính:

1Gạt bỏ từng lớp trí thức nho học ra ngoài lề xã hội. Từ địa vị quản trị đất nước và giáo dục thanh niên, họ trở thành vô dụng. Bởi vì họ là bức tường chống Pháp mạnh mẽ cuối cùng, cả về mặt quân sự, lẫn văn hoá.

2- Gạt bỏ 20 thế kỷ tư tưởng phương Đông, 10 thế kỷ văn học cổ điển, biến người Việt thành một dân tộc vô văn hóa, phải học lại mọi sự từ đầu.

3- Xoá bỏ lịch sử xâm lược Việt Nam ghi trong Đại Nam Thực Lục, để thay bằng lịch sử "khai hoá" An Nam do sử gia thực dân viết.

4- Tạo sự kính nể vô bờ nền văn hóa Pháp và Tây phương, ở những "người Việt mới", mù chữ của tiền nhân.

Một ngàn năm đô hộ Tầu, khiến chúng ta coi chữ Hán là "chữ thánh hiền". Một trăm năm đô hộ Pháp đã biến người Việt thành những đứa con bái phục vô điều kiện nền văn hóa nước mẹ.

Đến nỗi người Pháp dám đưa ra một "ông tổ" sáng tạo ra chữ quốc ngữ, không thạo tiếng Việt, không viết được một câu tiếng Việt cho ra hồn (xem Phép giảng tám ngày). Vậy mà chúng ta vẫn sùng bái lập tượng, đặt tên đường.

Sự tôn sùng chữ quốc ngữ nằm trong mặc cảm tự ti của người bị trị, dẫn đến tinh thần vọng ngoại cao độ, còn tồn tại đến ngày nay: Hiếm thấy sách, báo nào trích dẫn một câu văn, một lời nói, có ý nghĩa của người Việt, mà toàn trích dịch lời các tác giả Âu, Mỹ, như thể nước ta không có nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng nào cả.

 

Tại sao chữ quốc ngữ không phát triển được trong ba thế kỷ?

Chữ quốc ngữ được hình thành từ đầu thế kỷ XVII, mà sao trong ba thế kỷ, XVII, XVIII, XIX, hầu như không có một tác phẩm quốc ngữ nào để lại?

Những tập Truyện các thánh, dàn trải trong ba thế kỷ, đều viết bằng chữ Nôm. Bản phóng tác Thánh Kinh của linh mục Lữ Y Đoan, ra đời nửa sau thế kỷ XVII cũng viết bằng chữ Nôm.

Trong nền văn chương thế tục, hầu hết các tác phẩm lớn, nhỏ của văn học Việt Nam trong hai thế kỷ XVIII và XIX, đều viết bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán, không ai dùng chữ quốc ngữ cả.

Văn bản quốc ngữ đầu tiên có lẽ là Phi Năng thi tập của linh mục Phi-lip-Phê Phan Văn Minh (1842)[27], nhưng người công giáo cũng không biết đến[28]. Rồi tới Kiếp phong trần của Trương Vĩnh Ký [in lần thứ ba năm 1882][29], được giới thiệu là "áng văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ vào loại cao niên nhất"[30], chỉ là lời triết lý vụn giữa hai người bạn Trương Đại Chí và Lê Hảo Học, về những thăng trầm của cuộc đời, chưa thể gọi là truyện ngắn hay tiểu thuyết được.

Phải đến Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887, Sài Gòn), ta mới có tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên. Theo Nguyễn Văn Trung, truyện của Nguyễn Trọng Quản được dịch ra Pháp văn gần hết, được chú giải kỹ lưỡng và dùng để giảng dạy trong chương trình của A. Chéon, cùng với truyện ngắn của Trương Vĩnh Ký và Paulus Của. Hiển nhiên người Pháp muốn xác định rằng nền văn chương Việt Nam chỉ bắt đầu với những văn bản quốc ngữ này[31].

Tại sao dân tộc ta dị ứng với chữ quốc ngữ trong ba thế kỷ?

Tại sao Tự Lực văn đoàn phải "nhảy vọt" từ văn chương cổ điển Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ, hoàn toàn khác?

Thực ra, không có sự "nhảy vọt" nào cả, mà nền văn học hiện đại quốc ngữ đã tiếp nối nền văn chương cổ điển chữ Nôm, dù bị thay đổi chữ viết nhưng vẫn âm ỷ sống trong lòng dân tộc như một rường cột vững chắc, về văn chương tư tưởng. Chúng ta dị ứng với quốc ngữ vì lẽ đó.

Nếu các dịch giả và học giả Việt Nam, không phiên âm Ca dao, thơ Nôm, dịch thơ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, để nhà văn có thể tìm thấy tinh chất trong các tác phẩm cổ điển và dân gian, làm sườn cho văn chương của họ, thì nền văn học quốc ngữ chưa thể bắt đầu.

Chúng ta không nên quên rằng ngôn ngữ và tư tưởng trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, hoàn toàn xây dựng trên nền móng tư tưởng triết học Phật giáo và lấy chất liệu ngôn ngữ trong văn thơ Hán Nôm và Ca dao, chứ không phải từ các tiểu thuyết của Pháp.

Tất cả những chủ đề lớn của họa sư Lê Bá Đảng, suốt đời làm việc ở Pháp, Mỹ, Nhật, đều rút ra từ huyền sử Việt Nam và triết học Đông phương.

 

Không thể làm lại lịch sử

Viết những điều này ra đây, không có nghiã là chúng tôi muốn quay trở về với chữ Nôm, điều đó không thể được. Không ai làm lại lịch sử.

Ỏ đây, chúng tôi thử làm một việc có thể làm được là nghiên cứu và phục hồi phần lịch sử đích thực về truyền giáo và quốc ngữ, đã bị một số thừa sai và sử gia thực dân trá mạo, đưa ra những tuyên truyền sai lạc về lịch sử cận đại Việt Nam.

 

1- Về truyền giáo, việc cấm đạo ở Việt Nam, từ trước đến nay thường được quy chụp cho "sự tàn ác" của vua quan nhà Nguyễn. Nhưng khi điều tra kỹ thì việc cấm đạo có nguồn gốc khác:  

Sự miệt thị những giá trị tư tưởng và tín ngưỡng chân truyền của người Việt, trong các bài giảng của giáo sĩ, đã khiến các chúa nổi giận; đã khiến linh mục học giả Lữ Y Đoan, ngay từ thế kỷ XVII, đã phải phóng tác lại Kinh thánh ra thơ Nôm, cho phù hợp với truyền thống văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt.

Lữ Y Đoan đã hoàn thành công trình đồ sộ: Sấm Truyền Ca, diễn Nôm năm quyển sách của Moise trong Thánh kinh cựu ước, thành thơ lục bát, làm xong năm 1670. Như vậy, việc phản kháng sự bổ báng trong các bài giảng của giáo sĩ người Âu, đã có ngay trong giáo đường của ta từ thế kỷ XVII. Sấm Truyền Ca bị các giáo sĩ Pháp triệt để cấm, khiến sau này bị mai một.

Lý do cấm đạo ở Việt Nam, vì vậy, rất phức tạp, không phải là sự cấm đoán tùy hứng và độc đoán của vua chúa "tàn ác, ngu muội" như sách vở thực dân vẫn tuyên truyền, và người Việt "hồn nhiên" chép lại trong sách sử của mình, mà không phản bác.

Lúc đầu các chúa ở hai miền Nam, Bắc đều đón nhận đạo Gia Tô một cách nồng nhiệt, rồi sau họ cấm. Lý do chính là việc phỉ báng Tam giáo (Khổng, Lão, Phật) và cấm thờ cúng tổ tiên, mà Tòa Thánh gọi chung là Nghi lễ. Việc hoàng tử Cảnh, năm 1789, 9 tuổi, ở Pháp về không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên, là một xì-căng-đan lớn, khiến Nguyễn Vương đã đàn hặc gắt gao Bá Đa Lộc, và từ đó triều Nguyễn cấm đạo Gia Tô. Giám mục Bá Đa Lộc đã tranh đấu với Roma về quyền thờ cúng cha mẹ cho đến hơi thở cuối cùng.

Những sự kiện này nằm trong "cuộc chiến" gay gắt giữa Giáo hoàng và các Hoàng đế phương Đông: Giáo hoàng Clément XI ra nghị định ngày 19-3-1715: tuyệt đối cấm Nghi Lễ. Hai năm sau, vua Khang Hy ra chỉ dụ triệt để cấm đạo ngày 17-5-1717. Trong bốn thế kỷ XVII, XVIII, XIX, XX, việc cấm Nghi lễ của Tòa thánh và việc Cấm đạo ở các nước Á châu, đưa đến tranh chấp đẫm máu: quân Pháp-Y Pha Nho mượn chiêu bài "thánh chiến" để đánh chiếm nước ta.

Sau khi thua trận, vua Tự Đức phải ký hiệp ước Nhâm Tuất, 1862, "nhượng" cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, và cho Pháp, Y Pha Nho được tự do giảng đạo. Mãi đến năm 1939, Giáo hoàng Pie XII mới chịu nhượng bộ, cho phép tín đồ được quyền thờ cúng tổ tiên. Từ đó, không còn nghị định nào của Roma phủ nhận quyền này nữa.

2- Vấn đề thứ hai là chữ quốc ngữ. Ngày nay nhiều người vẫn còn cho rằng chữ quốc ngữ là lối thoát duy nhất, để ra khỏi sự chậm tiến, nhưng không nhìn sang các nước bên cạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, vẫn viết chữ của họ (tức là chữ Hán) mà vẫn trở thành cường quốc.

Việc tìm lại lịch sử chữ quốc ngữ không dễ, bởi vì khi đọc những tư liệu về chữ quốc ngữ, trước tiên, ta sẽ bắt gặp hai thứ chữ mà phần lớn người Việt không biết đọc là chữ La tinh và Bồ Đào Nha. Biết chữ Bồ, chữ La, vẫn chưa đủ, còn phải biết cả chữ Nôm và chữ Hán nữa. Chúng tôi không có những khả năng này; là kẻ ngoại đạo, những gì chúng tôi viết ở đây, chỉ là sự thu thập những điều người trước đã viết nhưng chưa có sợi dây nối lại với nhau, thành một tiến trình lô-gích, một lập luận khoa học.

Linh mục Đỗ Quang Chính, là người đi trước, mở đầu, trong cuốn Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659[32], in năm 1972 ở Sài Gòn, ông đã tìm ra những văn bản quốc ngữ viết tay đầu tiên của nhiều giáo sĩ, được lưu lại trong các thư viện công giáo ở Roma, trong đó có bản thảo của hai thầy giảng người Việt là Văn Tín và Bento (tức Biển Đức) Thiện viết năm 1659.

Chúng ta cần nghiên cứu lại những văn bản này, để có thể xác định: tác phẩm chính của chữ quốc ngữ, thế kỷ XVII, không phải là Tự điển Việt Bồ la, hay Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes mà là Lịch sử nước Annam của Bento Thiện, vì chữ viết và cách lập ngôn trong văn bản này, khá hoàn chỉnh, gần được như chữ quốc ngữ chúng ta viết bây giờ.

Điều quan trọng hơn nữa là Biển Đức Thiện không chỉ viết những chữ quốc ngữ lẻ tẻ trong một lá thư hay bài văn bằng chữ La tinh hoặc chữ Bồ, mà ông viết hẳn một tập lịch sử ngắn  bằng chữ quốc ngữ. Trong khi các giáo sĩ người Âu, dù thạo tiếng Việt đến đâu, đều chưa ai viết được một câu quốc ngữ cho đúng văn phạm tiếng Việt. Cuốn sách Catechismus (Phép giảng tám ngày) của Alexandre de Rhodes, là chứng từ hiển nhiên nhất.

 

Kết luận

Sự tìm kiếm đưa chúng tôi đến một số nhận xét: chữ quốc ngữ, tuy được hình thành từ đầu thế kỷ XVII, nhưng chỉ dùng rất giới hạn trong nhà dòng, giúp một số giáo sĩ người Âu muốn học tiếng Việt để giảng đạo, chứ không truyền bá được trong dân gian.

Phải đến cuối thế kỷ XIX, khi nhà cầm quyền thuộc địa, cho ra tờ Gia Định Báo với Trương Vĩnh Ký làm tổng tài, mới bắt đầu truyền bá quốc ngữ được. Sang đầu thế kỷ XX, toàn quyền Pháp, dùng dụ của vua để ra lệnh bỏ chữ Hán, chữ Nôm, thay thế bằng chữ Pháp và quốc ngữ. Từ lúc đó chữ quốc ngữ mới "tái sinh".

Bởi vì người Việt không còn con đường nào khác, nên các học giả và nhà văn Việt Nam, chỉ trong khoảng hơn bốn mươi năm, đã phát triển mạnh mẽ chữ quốc ngữ, để đạt tới dạng thức đầy đủ từ ngữ văn chương, khoa học, triết lý như ngày nay.

Tác phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ quốc ngữ "tái sinh" này là Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, in năm 1895, cuốn tự vị tiếng Việt đầu tiên cho người Việt dùng, vẫn còn giá trị đến ngày nay. Xin nhắc lại một lần nữa: người Việt thường ca tụng cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, nhưng không ai dùng cả, bởi không mấy người biết tiếng Bồ và tiếng La tinh.

Tóm lại, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký đã xây dựng nền móng chữ quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX; Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh cùng nhóm Đông Dương và Nam Phong tạp chí tiếp nối, đầu thế kỷ XX, rồi đến Tự Lực văn đoàn và các nhà văn hiện đại, thập niên 1930. Chỉ trong hơn nửa thế kỷ, chúng ta đã dựng được một nền văn học quốc ngữ hoàn chỉnh.

Điểm sau cùng chúng tôi muốn nói đến ở đây là: Nền văn học Hán Nôm của chúng ta cần được bảo tồn và đào sâu. Người làm việc phê bình và nghiên cứu văn học cần phải học chữ Hán, chữ Nôm. Cần phải đẩy mạnh việc phiên dịch Hán, Nôm, để lấp dần chỗ trống hiện tại: còn bao nhiêu tác phẩm Hán Nôm của tiền nhân vẫn chôn trong tủ bụi? Còn bao nhiêu truyện hay chưa khám phá, chưa được chuyển sang chữ quốc ngữ, dù việc dịch, như trên đã nói, chỉ là phương pháp bất đắc dĩ. Chúng tôi xin chép lại đây lời giáo sư Ngô Đức Thọ, người đã dịch những cuốn sách cơ bản như: Thiền uyển tập anh  Đại Việt sử ký toàn thư, trong giai đoạn mở đầu, đã qua đời năm 2019:

"Tôi vẫn luôn luôn tâm niệm muốn thực hiện việc dịch thuật các tác phẩm Hán Nôm của nước ta. Nhưng muốn làm được việc này phải tự học rất nhiều, không những phải nắm vững cổ văn, các vấn đề triết học, sử học, địa lý học, ngôn ngữ học... cũng đều cần có những kiến thức  nhất định. Di sản Hán Nôm của ta hàm chứa nhiều những kiến thức đó, mình hiểu biết sơ sài, khó nói đến việc chuyển tải những giá trị đó đến với mọi người."[33]

Viết những dòng này, sau hơn sáu mươi năm sống ở Pháp, chúng tôi muốn thông tin cho giới trẻ Việt Nam biết rằng nền tảng văn học của chúng ta trong mười thế kỷ, đã bị người Pháp xóa bỏ như thế nào, bằng chữ quốc ngữ, khiến chúng ta bắt buộc phải tìm lại.

Một nền văn học bất hạnh như thế, lại trải qua một thời kỳ dài toàn trị, gạt bỏ tất cả những gì không chính thống, đặc biệt Tự Lực văn đoàn và Văn học miền Nam, để chỉ quanh quẩn với những sách được cho phép, đã khiến giới trẻ cảm thấy tù túng, coi thường văn chương Việt Nam, mà họ không biết rõ, nên hết sức vọng ngoại, háo hức đọc các sách dịch, đôi khi rất tồi về chất lượng dịch thuật cũng như nội dung tác phẩm, miễn là của người nước ngoài. Chúng tôi xin chép lại dưới đây lời tự kiểm của linh mục Thanh Lãng, như một chúc thư trước khi ông qua đời, ngày 17-12-1988:

"Chính chúng tôi, bỏ nước đi ra ngoài, quen nói tiếng nước ngoài, quên cả nguồn gốc ngôn ngữ của tổ tiên, đến khi về nước nghe lỏm được từ này từ nọ (...)  chúng tôi hý hửng cũng đòi ngôn ngữ tôn giáo phải đổi đời theo cái sàng khôn mà chúng tôi mới võ vẽ học lỏm được. Chúng tôi cũng từng vỗ ngực miệt thị cha ông xưa là dốt nát, nhưng chính trong lúc tố cáo cái dốt nát của tổ tiên thì chúng tôi lại để lộ cái dốt tệ hại của chính mình. Chúng tôi chế diễu các bản văn cổ, chúng tôi đòi sửa cho bằng hết các bản kinh, bổn, sách xưa, sách cũ..."[34]

Những lời tự phán này, giúp chúng ta nhìn nhận lại chính mình: khi không biết đến nền văn học nước nhà trong mười thế kỷ, thì dù có đọc bao nhiêu sách nước ngoài, cũng vô bổ.

Hoàng Xuân Hãn đã viết Kiều tầm nguyên trong chiều hướng đó.

Yên Cơ, Les Issambres, ngày 30-9-2023
Thụy Khuê
thuykhue.free.fr


[1] Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 của Đỗ Quang Chính, Tủ sách Ra Khơi, in tại Sài Gòn, năm 1972, Đường Mới chụp và in lại tại Paris, năm 1985,  trang 22.

[2] Nguyễn Văn Trung, Về một số sách cũ do người công giáo viết ra từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX,  in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), do Nguyễn Văn Trung soạn, Trường Đại Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh in năm 1993, trang 1.

[3] Linh mục Phan Văn Minh là học giả kiêm nhà thơ, tử đạo năm 1853, tác giả tập thơ quốc ngữ Phi-Năng thi tập.

[4] Trương Vĩnh Ký là thông ngôn của phái đoàn Soái Phủ Nam Kỳ trong chuyến phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1963, điều đình chuộc lại ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, đã mất năm 1862.

[5] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, đăng trong cuốn Kỷ yếu triển lãm và hội thảo Trương Vĩnh Ký (ngày 12 tháng 12 năm 2018 tại Nam California), Ban tổ chức xuất bản năm 2019, trang 38.

[6] Theo Nguyễn Văn Trấn: "làm trợ bút, từ 1866 đến 1868, mới được nhắc lên làm chủ bút" (Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật) trang 29.

[7] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 38-39.

[8] Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật), Ban Khoa Học Xã Hội Thành Ủy, Tp Hồ Chí Minh, 1993, trang 25.

[9] Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945- Nxb Tp Hồ Chí Minh, theo bài Gia Định Báo của Trần Văn Chi trong Kỷ yếu triển lãm và hội thảo Trương Vĩnh Ký, trang 42.

[10] Trần Văn Chi, Gia Định Báo,  bài đã dẫn, trang 41.

[11] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 42- 43.

[12] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 39.

[13] Nguyễn Văn Trung, Kitô giáo trong giao lưu văn hóa Tây phương với Việt Nam, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 149.

[14] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 5.

[15] Giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, một trong những chuyên gia Hán Nôm hàng đầu của ta, bắt đầu dịch Nam Triều công nghiệp diễn chí từ năm 1986, trải các năm, 1987, 1990, 1994, ông đều in các bản dịch đã chỉnh sửa theo các văn bản mới khám phá, phải đến năm 2003, mới có bản cuối cùng.

[16] Trần Cảnh (Thái Tôn), đánh quân Mông cổ lần thứ nhất với Trần Thủ Độ (1258), tác giả Khóa Hư Lục. Trần Tung (Tuệ Trung Thượng sĩ, con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo) và hai con của Thái Tôn: Trần Hoảng (Thánh Tôn) và Trần Quang Khải, đều là nhà thơ. Trần Khâm (Nhân Tôn), hai lần đánh quân Mông Cổ với Trần Hưng Đạo (1285 và 1287-1288) và là Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả hai bài phú Nôm đầu tiên, tìm thấy: Cư trần lạc đạo và Đắc thú lâm tuyền thành đạo. Anh Tôn, Minh Tôn, Nghệ Tôn đều có Ngự tập. Chưa kể các tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, đều làm thơ, các nhà sư lớn Pháp Loa, Huyền Quang Lý Đạo Tái, và các tác giả khác như Nguyễn Thị Điểm Bích, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi... đều để lại thơ Nôm và thơ chữ Hán.

[17] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California 2002, trang 194.

[18] Theo Hoàng Xuân Hãn: Kiều đã được chép đi chép lại nhiều lần trước khi in, mỗi lần chép người ta lại sửa một vài chữ theo ý mình, chưa kể, khi đem vào Huế, các ông hoàng thời Minh Mạng, nổi tiếng hay chữ, lại càng thích sửa.

[19] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California2002, trang 215.

[20] Thơ văn Lý Trần, tập II, trang 27-29, Nguyễn Đức Vân và Băng Thanh dịch.

[21] In trong Archivum Historicum Societatis Iesu, 22, 1953, trang 203-214.

[22] Thanh Lãng, Thử thiết lập hồ sơ về hai người con gái:một con của Phật, một con của chúa, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 6, do Nguyễn Văn Trung tập hợp các bài viết của Thanh Lãng, Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Như Thắng, Nguyễn Nhã, Trần Thái Đỉnh, Trần Thanh Đạm, Hoàng Châu Ký, Nguyễn Lộc, Cao Xuân Hạo, Tài liệu tham khảo, do Trường Đại Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh in năm 1993. Trong cuốn sách này có những bài đáng chú ý: Trích bài Thanh Lãng nghiên cứu đối chiếu truyện Tiêu-du-la (Théodora) của Majorica với Quan Âm Thị Kính; Võ Long Tê giới thiệu Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Majorica. Nguyễn Văn Trung giới thiệu Sấm truyền ca của Lữ Y Doan, và Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm giới thiệu: Phi Năng thi tập, thơ quốc ngữ, của Thánh Phi-Li-Phê Phan Văn Minh.

[23] Nguyễn Huệ Chi Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, (24-4-2002-15-5-2006, in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hoá đến các mã nghê thuật, trang 804-819.

[24] Trích dịch Le dit du Genji (Truyện Genji), bản dịch tiếng Pháp của René Sieffert, nxb Publications Orientalistes de France, 1999, trang 617. Xem bài Từ Murasaki đến Kawabata của Thụy Khuê, trên site: thuykhue.free.fr.

[25] Theo Đào Duy Anh, trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 10.

[26] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 11.

[27] Với Lời phi lộ của tác giả đề viết tại Phi-Năng ngày 25-12- 1842, trích bài Phi Năng Thi tập Thánh Phi-Lip-Phê Phan Văn Minh của Võ Long Tê và Phạm Đình Khiêm, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 89.

[28] Nguyễn Văn Trung, Về một số sách cũ do người công giáo viết ra, từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 3.

[29] Theo Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật), trang 241.

[30] Bản in Nhà Hàng Chiliand et Martiaux, Sài Gòn, 1882, tài liệu Lục Châu Học của Nguyễn Văn Trung.

[31] Nguyễn Văn Trung, lời giới thiệu Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản.

[32] Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 của Đỗ Quang Chính, Tủ sách Ra Khơi, in tại Sài Gòn, năm 1972, Đường Mới chụp và in lại tại Paris, năm 1985, đã dẫn ở trên.

[33] Ngô Đức Thọ, Diễn văn nhận giải thưởng dịch thuật của quỹ Phan Châu Trinh 2014.

[34]Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 21. 


© 2023 Thụy Khuê