Hiển thị các bài đăng có nhãn Về nguồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Về nguồn. Hiển thị tất cả bài đăng

24 tháng 5 2024

Hành giả Minh Tuệ từng tu tập ở Chùa Am và chịu ảnh hưởng sâu của Hòa thượng Thích Thông Lạc

16 Tháng Năm, 2024 - Văn Việt

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Hôm trước, một bạn FB có cung cấp thông tin: “Hành giả Thích Minh Tuệ đã xuất gia ở tu viện Chơn Như [tức Chùa Am]* của trưởng lão Thích Thông Lạc”. Tôi đã hỏi lại vài người trong Ban Giới – Định – Tuệ (thuộc Tu viện Chơn Như, hiện tham gia trong Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo) – Ban đã đề nghị tôi làm phim chân dung về Hòa thượng Thông Lạc ngay sau cuộc Tọa đàm khoa học về ngài được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo tổ chức vào ngày 8/5/2022.

Được biết thêm: Chưa ai rõ tu sĩ Minh Tuệ có tuyên thệ xuất gia ở Tu viện Chơn Như hay không, nhưng sự thực là ngài đã có 5 tháng tu tập tại các thất của Tu viện này, sau đó tu sĩ Minh Tuệ rời tu viện làm Du sĩ, Khất sĩ từ bấy đến nay. Như vậy là: Tu sĩ Minh Tuệ trên con đường hành giả, tuy không đi theo lối ẩn tu trong mật thất nữa, nhưng chắc chắn là được hấp thụ, ảnh hưởng sâu sắc triết lý & phương thức hành đạo trên cơ sở hệ thống Phật giáo nguyên thủy mà Trưởng lão Thích Thông Lạc đã thể hiện trong 30 đầu sách do Ban kinh sách của Tu viện Chơn Như ấn tống suốt hơn mấy chục năm qua!

Trước những "tuyên ngôn" đầy huênh hoang, xúi giục cúng dường, tuyên truyền mê tín lừa đảo xa lạ với “con thuyền Bát Nhã” của mấy vị chức sắc Phật giáo quốc doanh vừa qua, không ít người đã phải ngậm ngùi nhớ lại những lời răn dạy tựa lời than của Hòa thượng Thích Thông Lạc trong sách "Những lời Phật dạy" của ngài:

“Chúng tôi là đệ tử của Phật, noi gương Ngài, những gì của Phật đã bị ngoại đạo ném bỏ xuống thì chúng tôi dựng lại, còn những gì không phải của Phật gây ảnh hưởng xấu tai tiếng cho Phật giáo, gây ảo tưởng, trừu tượng, mê tín, lạc hậu, v.v. khiến cho Phật giáo suy đồi thì chúng tôi ném bỏ xuống hết. Bởi vì khi tu xong chúng tôi như những người đứng trên núi cao nhìn xuống, thấy kinh sách, thấy ai tu hành không đúng chánh pháp của Phật, chúng tôi đều biết rõ. Do đó, tổ nào có ý đồ ném bỏ và kiến giải sai về Phật giáo thì chúng tôi có bổn phận phải chỉnh đốn lại và làm cho con đường Phật giáo sáng chói huy hoàng, chứ không thể để Phật giáo biến thành đống giáo lý tổng hợp. Nhờ đống giáo lý ấy mới có một số người lợi dụng làm nghề sinh sống mê tín, lừa đảo và làm cây chùm gửi, ăn bám vào người khác, biến họ thành gánh nặng cho xã hội. Lời nói này, tin hay không tin là quyền ở các bạn” (Những lời gốc Phật dạy, tập III, NXB Tôn Giáo 2013, trang 166).

Nhưng tiếng nói chân thật và mang chân lý của ngài từng đã vấp phải không ít sự phản ứng, ghen tỵ, chống đối, thậm chí xuyên tạc rằng ngài là người dám đi “ngược dòng” chính thống, phản bội kinh điển Phật giáo được thừa nhận bao thế kỷ qua ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á!

Xin đọc một đoạn trong bài: NHỮNG TRÒ MÊ TÍN LỪA ĐẢO TRONG CÁC CHÙA, trong đó Hòa thượng Thích Thông Lạc đã thẳng thắn vạch ra những vấn đề nóng bỏng tính thời sự và chân tình khuyên bảo các Tăng Ni – Phật tử:

"Tụng kinh, gõ mõ, dâng sao, giải hạn, làm thuyền bát nhã bằng giấy để chở các vong linh về Tây phương, Niết Bàn v.v. đó là những việc làm mê tín lừa đảo những tín đồ nhẹ dạ vì thương cha mẹ và những người thân nên bỏ tiền ra cúng để các sư cô ghi tên họ được đưa về Tây Phương Cực Lạc, đó là một việc làm mê tín lạc hậu nhất trong các kinh sách phát triển mà các sư cô thực hiện.

Những việc làm này là những việc phỉ báng Phật giáo, có mục đích tiêu diệt Phật giáo, thấy những việc làm này người có trí hiểu biết sẽ đánh giá Phật giáo là một loại tôn giáo mê tín, lừa đảo, tín đồ, do đó việc làm này không có lợi mà còn có hại cho Phật giáo rất lớn.

Những việc làm này nó không có lợi ích cho con người khiến cho con người tiền mất tật mang chỉ có những người hành nghề bất chánh này là có lợi ích mà thôi.

Bằng chứng như trong thư đã nêu, các ni sư chỉ hành một cái nghề mê tín này mà nhà chùa có hằng tỷ bạc dám bỏ tiền ra di dân để nhà chùa được rộng rãi khang trang hơn. Cho nên không có cái nghề nào làm giàu dễ như làm nghề mê tín trong các chùa.

Nghề mê tín là nghề bói khoa, chiêm tinh, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu dựng vợ gả chồng, làm nhà xây mồ mả, v.v.

Nghề mê tín là nghề cúng bái, tụng niệm, cầu siêu, cầu an, làm ma chay, làm tuần cúng vong, tiễn linh, mở cửa mả, đốt tiền vàng mã và nghề dán kho đụn, quần áo, mũ nón, v.v., đó là nghề lừa đảo lường gạt tín đồ Phật giaó. Kinh sách Nguyên thủy không bao giờ đức Phật dạy, duy chỉ có kinh sách phát triển mới có dạy điều này mà thôi.

Người cư sĩ đệ tử của đức Phật phải có trí tuệ, phải xác nhận thấy biết những điều mê tín không lợi ích cho mình cho người, những điều phi lý mất công bằng, vô đạo đức thì nhất định không làm theo, hoàn toàn không để cho người khác lợi dụng mình, lừa đảo mình. Có như vậy mới làm sáng tỏ lại Phật giáo, mới đem lại nền đạo đức nhân bản không làm khổ mình khổ người…" (http://phatphapchanthat.blogspot.com/2013/03/su-ong-thich-thong-lac-neu-ra-nhung-gia.html).

Rõ ràng: những lời dạy của Đức Vua Phật hoàng Trần Nhân Tông từ bảy thế kỷ trước: “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên; Đói cứ ăn no mệt ngủ liền; Của báu trong nhà thôi tìm kiếm; Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền” như đã sống lại trong lời PHÁP MÔN NIỆM PHẬT của Hòa thượng Thích Thông Lạc:

“Những tu sĩ và cư sĩ Phật giáo đều là những bậc Thánh tăng, Thánh ni và Thánh cư sĩ. Vì thế trong đời sống hiện tại trên thế gian, hằng ngày quý vị phải biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả thì sự an vui hạnh phúc mới thực sự là chân thật. Do muốn biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả nên phải biết rõ ràng từng hành động thân, khẩu, ý của mình như thế nào đúng và như thế nào sai giới luật, sai giới luật là phạm giới. Sống đúng giới luật là sống đúng đức hạnh, sống đúng đức hạnh là sống thương yêu nhau, đem lại sự an vui cho nhau. Sống phi giới luật là sống vô đạo đức, sống vô đạo đức là sống đem khổ đau cho nhau, chẳng biết thương nhau” (Văn hóa truyền thống, Lời nói đầu – tập II, NXB Tôn Giáo 2000).

Và tôi đã tìm đọc cuốn “Lịch sử Chùa Am” (NXB Tôn Giáo, 2013). Chùa Am có lịch sử hơn 200 năm, với vị sư trụ trì đầu là hòa thượng Minh Không nguyên là một võ tướng của Tây Sơn, và vị trụ trì thứ 5 chính là Hòa thượng Thông Lạc – cũng là tác giả cuốn sách trên.

Tôi thấy mê ngôi chùa này quá, bởi có gì giống mọi ngôi chùa Việt truyền thống xưa nay: “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây” (Nguyễn Khuyến); bởi mở đầu cho những trang sách lịch sử ngôi chùa cổ là dòng chữ in trang trọng “Quê hương Việt Nam” tiếp theo là nhiều cảnh vật thiên nhiên núi rừng sông suối nước Việt cùng những câu thơ của các thi sĩ Tản Đà, Huy Cận (Nước Non hẹn một lời thề/ Nước đi đi mãi không về cùng Non/ Nhớ lời hẹn Nước thề Non/ Nước đi ra bể lại mưa về nguồn… Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song…). Ngay cả câu thơ của Thôi Hiệu với lời dịch thơ của Tản Đà: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai – Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu” cũng có ảnh thiên nhiên làng quê Việt minh họa và góp phần tạo nên cái nền tình yêu quê hương đất nước thấm thía tràn ngập tâm hồn vị Thiền sư… Trong khuôn viên Chùa Am, bên cạnh các bia Kinh, có bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni đi khất thực…

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni đi khất thực trong Chùa Am.

Phải chăng, tu sĩ Thích Minh Tuệ từng sống và từng hấp thụ cái không khí Tâm hồn – Tư tưởng thuần hậu cao cả của một vị Trưởng lão từng là một “hiện tượng” trong Phật giáo Việt Nam hiện đại, nên hành trạng sau đó của hành giả này đã tựa một sự thực hành tiếp tục, tiếp nối ước nguyện của Hòa thượng Thích Thông Lạc? Cái ước nguyện, sự mong mỏi cháy lòng làm sao để Phật giáo nói chung và ngôi chùa nói riêng cần trở lại linh thiêng và tiếp tục gần gũi với tâm hồn người dân Việt, kể từ thời Bắc thuộc, nói như cố GS. sử học Trần Quốc Vượng: “Đạo Phật thấm vào lòng người dân Việt cổ như nước thấm vào lòng đất”, và “Phật giáo trở thành một tư tưởng dân tộc và tổ chức Phật giáo (tăng đoàn, cư sĩ, Phật tử) trở thành một lực lượng dân tộc” (Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nhiều tác giả, Viện Triết học, Hà Nội, 1986, tr. 141).

Điều đó chắc lý giải được phần nào sự ngưỡng mộ, kính trọng của đám đông dân Việt vừa qua ở các địa phương – nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh – trước những bước chân hành hương khất thực của vị tu sĩ có phần kỳ dị song thực ra rất dễ hiểu bởi hình ảnh tu sĩ Minh Tuệ đã phần nào tượng trưng cho niềm tín ngưỡng nguyên thủy thuần Việt tựa “nước thấm vào lòng đất” nhưng lâu nay bị che mắt bịt tai, bị chèn ép, bị xuyên tạc bởi hệ thống Phật giáo & sinh hoạt Phật giáo đã vào giai đoạn thương mại hóa một cách thảm hại…

_________

*Tu viện Chơn Như hiện ở số 4 đường Chùa Am, ấp Gia Lâm, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

21 tháng 4 2024

Cầu mưa...

18.4.2024 - Thái Hạo

Cầu mưa là một thực hành văn hóa - tâm linh phổ biến của nhân loại trong quá khứ. Ngày nay, nhiều vùng trên thế giới vẫn còn duy trì truyền thống này, ngay cả ở các nước hiện đại. Ở Việt Nam, nhiều sắc tộc thiểu số hiện vẫn còn lưu giữ.

Trên phương diện quốc gia, ngày xưa mỗi khi hạn hán kéo dài, vua sẽ đại diện cho cả nước đứng ra lập đàn cầu mưa. Lịch sử Việt Nam ghi nhận, từ thời nhà Lý nghi lễ này đã được tiến hành. Ngày nay, với văn hóa hiện đại, chúng ta nhìn lại thì thường có cảm nhận rằng đó là một tư duy mang màu sắc mê tín, lạc hậu, ấu trĩ... Tuy nhiên, không phải chỉ có thế.

Với quan niệm hữu thần và thiên - địa - nhân hợp nhất (trời, đất và con người là một thể), người ta khởi lên niềm tin rằng, thần thánh/ ông trời có thể tương dung, tương thông, nghe thấy được lời cầu xin của con người, chỉ cần họ có tâm chí thành. 

Người ta nghĩ rằng, mọi tai họa dưới nhân gian là do sự sai trái, lầm lạc, xấu xa, độc ác của con người gây ra. Và người phải chịu trách nhiệm cao nhất chính là vua. Vì thế, trước khi cầu mưa (hay cầu những điều khác), nhà vua phải trai giới (ăn chay, tránh tà dâm, sinh hoạt trong giới đức...), phóng thích tù oan, thả bớt cung nữ, mở kho cứu đói cho dân, v.v.. Khi tất cả đã được thực hiện và giữ gìn tinh nghiêm sau một thời gian đủ dài, lúc đó lễ cầu mưa mới được tiến hành. Và người ta tin rằng, nếu cầu mà trời vẫn không mưa là do mình đã chưa chuộc hết tội lỗi, phải thành thật sám hối, tự kiểm điểm lại tất cả hành vi, phát tâm quyết rửa sạch và không ngừng hành thiện.

Không bàn tới sự phi lý trong quan niệm rằng mưa là do Ông Trời ban cho và con người có thể cầu mà được; nhưng ít ra người xưa tin rằng mọi thứ nên hư tốt xấu xảy ra đều là do ở chính mình. Cái tư duy “tiên trách kỷ” này là một trong những nền tảng đạo đức quan trọng của người xưa mà nay đã trở thành xa xỉ. Vì nhiều lý do, có thể là nằm ngoài dự liệu, nhưng nó mang tới những suy nghĩ và hành xử có tính cảnh tỉnh và tự cảnh tỉnh, nó nhắc nhở con người biết sống thiện lương, tử tế, nỗ lực tạo công đức... Biết sợ (sợ thần thánh, sợ nhân quả, sợ luật pháp, sợ lương tri...), ở một một khía cạnh nào đó chính là đạo đức. Còn một khi đã “coi trời bằng vung” thì không việc ác nào không dám làm.

Nay thì không còn nữa. Không những “tự nhận lỗi” đã trở thành một món đắt đỏ bậc nhất mà hơn thế, sự vô sỉ và ý thức lưu manh đã chiếm thế thượng phong. Quan chức từ nhỏ đến lớn và rất lớn lũ lượt kéo nhau vào lò vì tham nhũng, tàn bạo, phá nát nền tảng văn hóa, kinh tế và xã hội của đất nước. Ngay cả khi bị “kỷ luật”, bị bắt, phải ra trước vành móng ngựa rồi vẫn trơ tráo, quanh co, lấp liếm, đổ lỗi... 

Bỏ sang một bên những chuyện tâm linh thì vẫn phải thấy rằng đây là sự phá sản về đạo đức. Mà, thượng bất chính thì hạ tất loạn. Nếu “vua quan” hiểu rằng hạn hán có một nguyên nhân quan trọng là do phá rừng và không chăm lo trị thủy đúng mực thì họ sẽ nhận lỗi, “sám hối” bằng cách ban hành những chính sách phù hợp: bảo vệ rừng, trồng mới rừng, đầu tư xây đập, đắp đê ngăn mặn, dồn tài lực phát triển hệ thống nước máy sinh hoạt, đình chỉ mọi thứ lãng phí vào tượng đại, cổng chào, lễ lạt... Nhưng không. Một huyện nghèo bỏ ra 230 tỉ đồng để làm một cái lễ kỷ niệm, đó là việc làm mà cả trời và người đều oán giận.

Trong một đất nước mà từ vua quan đến người dân đều luôn biết tự xét mình, cảnh tỉnh mình, sống có trách nhiệm và hành động đúng với chức phận mình thì chưa cần trời giúp cũng là đã tự giúp mình. Đó cũng là một dạng “trời người là một”: con người tự định đoạt lấy cuộc sống và số phận của mình, con người tự làm “ông trời” của chính mình.

Nay cái thiêng (tin vào trời đất thánh thần) đã mất mà đạo đức cũng đã suy bại. Biết dựa vào đâu?

Nói thêm: người xưa, có thể chỉ là vô tình nhưng đã chạm đến những nguyên lý rất hiện đại. Chúng ta biết rằng, vật lý lượng tử đã vén lên bức màn về sự “hợp nhất” giữa tinh thần (con người) và tồn tại (vật chất). Nó rất gần với phát biểu “vạn pháp duy tâm” trong Phật giáo. Tinh thần (niềm tin, ý chí, sự lương thiện...) sẽ ảnh hưởng một cách vô hình nhưng mạnh mẽ đến cái vũ trụ mà họ sống. Tinh thần có thể làm thay đổi “cảnh giới”. Ở đâu sự dối trá và cái ác ngự trị, ở đó bất an, tai họa trùng trùng; ở đâu lòng chân thật và sự lương thiện bao trùm, ở đó cây cối xanh tốt, chim muông mở hội, mưa thuận gió hòa.

Sự xuống cấp đạo đức không chỉ làm rối loạn xã hội do các hành vi sai xấu gây nên, mà sâu xa hơn: phá hủy các nền tảng sâu về “đạo của vật lý”/ tâm linh. Khi không còn biết sợ quỷ thần như quan niệm sơ khai, cũng không còn biết sợ nhân quả, lại lạm dụng quyền lực trong một nền tảng luật pháp nhiều hạn chế, thì tất yếu sẽ phải dẫn đến những tai ương, không thể khác được.

Thái Hạo

15 tháng 4 2024

Đổi Tên Làng, Tên Xã Là Xoá Ký Ức, Xoá Lịch Sử, Hủy Hoại Văn Hoá?

13.4.2024 - Chu Mộng Long

Thú thực, tôi chẳng hưởng ứng những cải cách đèn cù, nhập rồi tách, tách rồi nhập từ tỉnh, thành đến huyện, xã. Mỗi lần khắc nhập, khắc xuất như vậy vừa tốn ngân sách, vừa tốn công sức của nhiều người, từ xây dựng bộ máy nhân sự đến khuôn dấu và các loại tờ khai. Đời sống thay đổi, việc tái cấu trúc từ xã đến huyện, tỉnh thành là cần thiết, nhưng trong bối cảnh hiện tại, nhiều khi lợi bất cập hại.

Tuy nhiên, nói tách nhập dẫn đến đổi tên làng, tên xã là xoá ký ức, xoá lịch sử, hủy hoại văn hoá, có người còn quy kết "dã man hơn giặc" là cách nói vống. Nhập xã với tư cách đơn vị hành chính. Làng vẫn là làng truyền thống, chẳng ai dở hơi nhập làng. Nhiều phản đối tưởng hiểu biết nhưng rất thiếu hiểu biết.

Tôi thách các sĩ phu mang danh nhà văn hoá, nhà lịch sử chứng minh rằng mỗi lần thay đổi làng, xã, huyện, thị, thậm chí thay đổi tên nước là xoá hẳn ký ức về lịch sử, văn hoá của địa phương hay quốc gia, dân tộc và dẫn đến mất làng, mất nước? Thử tra sách sử và địa chí xem, các triều đại từng đổi tên làng, tên xã... thậm chí đổi cả tên nước bao nhiêu lần, và những làng, xã..., nước ấy mất đi đâu? Cái tên Hà Nội có xoá kí ức về Thăng Long - Kẻ Chợ không? Tôi tin, tên gọi thành phố Hồ Chí Minh chẳng bao giờ xoá được kí ức về Sài Gòn - Gia Định. Hay là các sĩ phu sẽ bảo Văn Lang mất là do đổi thành Âu Lạc, Âu Lạc mất là do đổi thành Nam Việt, Nam Việt mất là do đổi thành Vạn Xuân, Vạn Xuân mất là do đổi thành Đại Cồ Việt rồi Đại Việt, Đại Nam? Và cái tên Việt Nam hiện nay đã xoá sạch ký ức, lịch sử và văn hoá 4 ngàn năm trước?

Lịch sử, văn hoá với giá trị đích thực ắt được lưu truyền và bảo tồn trong ký ức, không phải ở cái vỏ ngôn ngữ. Ngay cả cái vỏ ngôn ngữ cũng không dễ lãng quên. Làng tôi thời các ông tổ khai hoang, có tên là Bàu Cừ, sau "biến cải vũng nên đồi" mới đổi tên thành Đại Sơn. Nhưng ký ức về cái Bàu Cừ, Bàu Cạn, Bàu Sấu vẫn còn nguyên vẹn trong các thế hệ. Và bây giờ đến chữ Đại Sơn không còn ghi trên giấy tờ nữa, người dân địa phương vẫn gọi cái làng mình đang ở bằng những cái tên tổ tiên lưu lại. Mất đâu mà mất? Ký ức mà xoá được dễ dàng như các sĩ phu tưởng tượng thì chỉ có thể là một giống dân... mất trí.

Cái gọi là "văn hoá", "lịch sử" mà dễ dàng bị xoá, đó chỉ có thể, hoặc là thứ văn hoá, lịch sử giả, hoặc là những giá trị đã cổ hũ. Duy ý chí đòi bảo tồn những thứ giả tạo, cổ hũ ấy là vô cùng có hại. Nhiều quốc gia, dân tộc tự hào có bề dày truyền thống, đòi bảo tồn những thứ lạc hậu, giả tạo, các quốc gia, dân tộc ấy chỉ có thể chậm phát triển và rơi vào thiểu năng trí tuệ.

Vừa rồi Bình Định có cuộc toạ đàm đòi bảo tồn Nhà lá mái. Tôi có bài tham luận mang tính phản biện, nhưng rất tiếc không tham dự được, phải nhờ người trình bày thay. Nghe tường thuật rằng, đa số các ý kiến tỏ ra "bức xúc" khi nhà lá mái của dân đã "bị" ngói hoá, bê tông hoá hết. Họ nói mất nhà lá mái là mất linh hồn Xứ Nẫu! Khổ thân các nhà văn hoá, yêu văn hoá hơn yêu dân! Ý kiến của tôi, đơn giản là, việc ngói hoá, gạch hoá, bê tông hoá là niềm mơ ước của dân nghèo sau bao nhiêu đời phải sống trong nhà tranh vách đất. Các sĩ phu, các quan chức muốn thì cứ đập nhà bê tông của mình đi rồi trét đất, lợp tranh mà ở. "Bức xúc" đến mức bắt dân phải quay về sống với nhà tranh vách đất để gọi là "bảo tồn di sản", còn mình thì hưởng thụ nhà cao cửa rộng thì có lưu manh không?

Chính quyền mà nghe lời các thầy dùi văn hoá, dân có thể quay về cái thời ăn cám heo để bảo tồn văn hoá.

Nghe các bạn thuật lại rằng, tham luận của tôi bị lạc lõng giữa đám đông các nhà văn hoá. May mà tôi không tham dự trực tiếp để bị các sĩ phu quy kết cho cái tội là "dã man hơn giặc"!

Chu Mộng Long

ChuMongLong-01-01

ChuMongLong-01-02

ChuMongLong-01-03

14 tháng 4 2024

Vừa Phải Thôi Quý Vị

11.4.2024 - Lưu Trọng Văn

“Quỳnh Đôi khoa bảng thật nhiều
Như cơn trên rú, như diều trên không”.

“Bắc Hà: Hành Thiện; Hoan Diễn: Quỳnh Đôi”

Đó, Quỳnh Đôi đi vào ca dao, tục ngữ bao đời nay vậy đó.

Lúc đầu làng có tên là “Thổ Đôi Trang”, đến năm 1528, cụ Hồ Nhân Hy (đời Mạc) đổi tên thành làng Quỳnh Đôi nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cái tên Quỳnh Đôi liên tục đến hôm nay hơn 500 năm chứ ít ỏi gì.

Người Thổ Đôi, Làng Quỳnh, Quỳnh Đôi đầu thế kỷ 20 tự hào có 734 người đỗ tú tài và cử nhân, 4 Phó bảng, 7 Tiến sỹ, 2 Hoàng Giáp và 1 Thám hoa” không hổ danh là làng khoa bảng, trên cả nước.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, toàn Quỳnh Đôi có trên 52 thạc sĩ, 55 tiến sĩ, 16 phó giáo sư, 5 giáo sư, 3 viện sĩ khoa học quốc tế. Đó là chưa kể về chính trị, Quỳnh Đôi có 5 Ủy viên Trung ương trong đó có 2 Ủy viên Bộ Chính trị, 9 đại biểu Quốc hội, 15 Bộ trưởng, Thứ trưởng và tương đương...

Quỳnh Đôi là quê hương của các danh nhân lừng lẫy lịch sử Dân tộc:

- Hồ Phi Tích (1665 -1754): đậu Hoàng Giáp khoa Canh Thìn (1700) làm quan đến Thượng thư bộ Binh, bộ Hình, tước Quỳnh quận công.

- Hồ Xuân Hương (1772 - 1822): được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm

- Phạm Đình Toái: tác giả cuốn sách "Đại Nam - Quốc sử diễn ca",

- Hồ Tùng Mậu (1895 - 1951): (tức Hồ Bá Cự) Chí sĩ cách mạng

- Cù Chính Lan (1930 - 1951): Liệt sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, một trong 7 cá nhân đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam, được nhân dân gọi là "anh hùng đánh xe tăng".

Tại Quỳnh Đôi có Khu di tích Tôn vinh họ Hồ với tượng, đền thờ các danh nhân: Hồ Quý Ly, Hồ Thơm ( anh hùng Nguyễn  Huệ), Hồ Xuân Hương…

Ấy vậy mà uỷ ban ND huyện Quỳnh Lưu vừa có văn bản đòi bỏ tên Quỳnh Đôi văn hoá lịch sử ấy để sáp nhập với xã Quỳnh Hậu thành xã… Đôi Hậu.

Cuộc sáp nhập các địa danh đang làm xáo trộn văn hoá truyền thống Dân tộc. Và việc xoá bỏ tên xã Quỳnh Đôi là đỉnh điểm của sự tàn phá vô văn hoá này.

Một xã, huyện tồn tại bởi giá trị thương hiệu văn hoá của nó chứ không phải bới con số người và diện tích đất. Vatican không đủ tiêu chí là một quốc gia. Vậy thì sáp nhập vào đâu đó đi thưa các ngài!

LuuTrongVan-01-03-TuongHoXuanHuong
Tượng Hồ Xuân Hương ở Quỳnh Đôi

LuuTrongVan-01-04-TuongHoQuyLy

LuuTrongVan-01-05-LangQuynh
Làng Quỳnh

LuuTrongVan-01-06

LuuTrongVan-01-07
Mộ các danh nhân họ Hồ đóng góp cho Đất nước