Hiển thị các bài đăng có nhãn Vương Trí Nhàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vương Trí Nhàn. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 4 2024

Nhận thức và Nhận thức lại 2

Bị Cầm Tù Bởi Quá Khứ

1.2.2024 - Vương Trí Nhàn

Đưa lần đầu trên blog cá nhân VTN   05-4- 2015

1/
Do nhu cầu làm báo, mấy chục năm liền trước khi về hưu, tôi thường phải đọc lại báo chí tiền chiến ngày Tết để làm hàng phục vụ người đón xuân thời nay.

Nay đã đến lúc đọc lại chính cái viết về Tết của thời mình – tức là các bài báo tết từ sau 1945 tới nay, nhất là từ sau 1975 --, ấn tượng chính còn lại trong đầu óc tôi là một sự khác biệt:

-- người viết văn viết báo tiền chiến thường đứng trên góc độ của con người hiện đại, trở về với dân tộc hết sức thiết tha, nhưng bao giờ cũng có sự phê phán. Hoặc nếu không thì cũng cảm thấy quá khứ là một cái gì tốt đẹp nhưng đã vĩnh viễn qua rồi không bao giờ còn trở lại nữa, người ngày nay phải sống khác.

Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ .. là những người nói đến cùng cái tầm thường dung tục của cách ăn tết ngày xưa.

Còn Thạch Lam mở ra một cách nhận thức mẫu mực, vừa thấy nét đẹp cổ điển của Tết, vừa khẳng định rằng thời đại của những cái Tết cổ truyền đã qua xã hội đang tìm tới cách đón tết thời cũ chưa từng biết.

-- Trong khi đó, nhiều bài báo Tết thời nay gần nhau ở cái điểm phục cổ: chỉ thuần một giọng ca ngợi những cái Tết xưa, ra cái điều rằng ở đó tất cả là tốt đẹp, chúng ta phải gắng làm theo, không cần cải tiến thay đổi chi hết.

Không những đối với Tết mà với nhiều phong tục tập quán thời xưa, chúng ta cũng có thái độ như vậy.

Lý tưởng hóa quá khứ đang là khuynh hướng bao trùm tâm lý con người, chi phối sự phát triển xã hội.

Đáng lẽ phải thấy quá khứ có nhiều khuôn mặt thì ta lại chỉ cho nó có một khuôn mặt duy nhất. Trong khi giải quyết các vấn đề xã hội ta chỉ nhăm nhăm dựa vào những kinh nghiệm trong quá khứ coi đó là thư thuốc bách bệnh.

2/
Tôi tự giải thích về tình hình ấy như sau:

CHIẾN TRANH KÉO CHÚNG TA LẠI

Sự kiện lớn nhất chi phối đời sống gần ba phần tư thế kỷ nay vẫn là chiến tranh ba mươi năm.

Trước chiến tranh, chúng ta có một xã hội đang hiện đại hóa mà do chỗ nó được tiến hành dưới sự bảo trợ của người Pháp nên chúng ta vẫn không chịu công nhận nó là văn minh tiến bộ, vẫn xem xã hội đó không phải là của mình.

Nếu được gọi sự vật bằng cái tên của nó, phải nói cuộc chiến tranh mà chúng ta tự nguyện tiến hành đã đập vỡ cái xã hội ấy ra. Chỗ này chỗ kia có thể khác, nhưng trên đại cục thì xã hội trước 1945 đã bị giải cấu trúc. Hệ thống quốc gia được tổ chức theo kiểu một đạo quân và hậu phương của đạo quân đó tuy còn gọi là xã hội song chỉ còn là cái vỏ ngoài, ngoài những bộ phận bảo đảm cho hàng ngũ người mặc áo lính chiến đấu, thì mọi thiết chế khác đều đã phá sản.

Cái xã hội đi dần sang hướng hiện đại thời Pháp thuộc bị chúng ta đơn giản hóa và đưa nó về tình trạng tiền hiện đại. Trong bộ phận chủ đạo, bộ phận sau này trở thành bên thắng cuộc, có người hiểu cái giá mình phải trả, nhưng vì nhu cầu trước mắt không thể làm khác. Mọi lý lẽ được huy động để chứng minh việc trước mắt là duy nhất đúng.

HIỂU BIẾT

Sau chiến tranh mặc dù tuyên bố là đặt mình vào công cuộc phát triển, nhưng thế nào là phát triển thì chúng ta không biết.

Cái khuôn mẫu mà sau chiến tranh chúng ta muốn xây dựng chỉ là khuôn mẫu mà chúng ta đã phá, thậm chí về nhiều mặt đưa tới tình trạng tiền hiện đại như trên vừa nói. Mọi sự gọi những là hội nhập là ra với thế giới chỉ là trong thế bức bách phải làm. Đội quân cũ được phân công đi làm kinh tế đi làm giáo dục. Mọi khái niệm về văn minh văn hóa chi phối con người sau chiến tranh chỉ là những cái thời tiền chiến ta còn nhớ được, cộng với những cái mới lõm bõm học được từ nước ngoài.

NIỀM TIN

Không chỉ có cách sống mà cả trong tư duy, ở những con người từng hết lòng vì chiến tranh cũng thấy có sự trở lại với những khuôn khổ của cái tư tưởng đã hướng dẫn người ta làm cuộc chiến tranh.

Khía cạnh thứ nhất, mà cũng là khía cạnh bao trùm trong suy nghĩ con người lúc này: quá khứ là muôn vàn tốt đẹp.

Chỉ có quá khứ có giá trị.

Tương lai sẽ giống như quá khứ, trên cái mạch của quá khứ.

Lẽ tự nhiên một tâm thế nhất quán là sự sùng bái quá khứ được hình thành. Từng con người tự nguyện sống lại quá khứ, mà cả xã hội cũng không mong mỏi gì khác.

Trong chiến tranh cả xã hội sống bằng một niềm tin trung cổ kiểu như “chân cứng đá mềm” “có công mài săt có ngày nên kim”, “Dù có bao nhiêu gian khổ, chính nghĩa sẽ thắng”.

Khi sự kiên trì giữ vững niềm tin đó được kết thúc bằng một sự kiện mà ta ao ước và gọi chung là chiến thắng thì cũng là lúc tâm trí chúng ta đã đông cứng lại trong một niềm tự tin cao độ, rất gần với sự tự lừa dối.

Ta tin tưởng rằng đã đánh nhau được thì làm gì cũng được. Vốn đã quá mệt mỏi vì chiến tranh chúng ta không muốn tìm tòi gì nhiều. Tương lai tìm trong quá khứ một hình bóng phát triển duy nhất. Mọi cảm tình được dành cho quá khứ, cái quá khứ bị lý tưởng hóa và chỉ có một nghĩa duy nhất. Một cách tự nhiên, những con người hậu chiến thực ra đã trở lại với cái nếp sống trung cổ lúc nào không biết. Mọi phương tiện được huy động để phủ lên sự nhốn nháo bên trong một vẻ ổn định bề ngoài.

ĐÃ TỪNG CÓ NHỮNG CÁCH NGHĨ KHÁC

Không chỉ riêng ta, nhiều cộng đồng khác, nhiều dân tộc khác, nhất là những dân tộc từng có một quá khứ anh hùng cũng đang trong một tình trạng dằng xé như vậy.

Chẳng hạn như ở nước Nga. Ở bên ấy, cả trong thời xô viết lẫn thời gian sau 1991, sức níu kéo của quá khứ đều khủng khiếp. Để biện hộ cho sự trì trệ trong tư duy, người ta lớn tiếng lên án những kẻ muốn thay đổi, cho đó là sự vong ân bội nghĩa.

Và sự bảo thủ đã được đúc kết thành những câu nói có cánh. Như cái câu mà người ta thường bảo là của Rasul Gamzatov "Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác" .

Trong khi đó, trong một bài bình luận chính trị gần đây, bài Những xiềng xích của lịch sử Đông Á tôi thấy tác giả Brahma Chellaney dẫn lại một câu ngạn ngữ : “Quên đi quá khứ thì mù một mắt, sống trong quá khứ thì mù cả hai”.

Mà đó lại là một câu ngạn ngữ của chính người Nga.

Ở ta cũng có tình trạng tương tự.

Chúng ta có một xã hội ta chỉ chấp nhận có một cách nghĩ của đa số, xem đó là cách nghĩ duy nhất, còn mọi ý tưởng xa lạ với cái chính thống đó, nếu không bị phê phán thì cũng bị bỏ qua. Cách làm lịch sử lại cũng theo kiểu đó mà tiến hành. Khi đọc lại sách báo cũ, những người làm sử hiện đại chỉ chọn ra những gì hợp với thời mình, minh họa cho “giai điệu chính” đang được mọi người công nhận. Còn như mọi ý nghĩ ngẫu nhiên bột phát có thể không đúng trong tình hình ấy song lại đúng về sau - thì chẳng ai buồn nhớ.

3/
Với một sự sáng suốt và phục thiện tối thiểu, mọi người chúng ta -- tôi tin là vậy - đều có thể tìm ra trong ký ức của mình những điểm sáng mà lâu nay bị gọi là lạc dòng nên đẩy vào trong quên lãng.

Phần tôi, dưới đây tôi dẫn lại một bài thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh làm trong khoảng thời gian tạm gọi là mười năm đen tối 1975-1985.

Vào một dịp khác tôi sẽ đặt bài thơ trong quá trình phát triển của xã hội hậu chiến và sự phát triển tư tưởng của tác giả; ở đây chỉ xin nêu lên một khía cạnh chủ yếu mà nhà thơ -- trong khi bám chắc vào cách dẫn dắt của một bài thơ tình — thật ra đã chạm tới cả một vấn đề lớn làm nên định hướng của xã hội:

  • Công nhận là quá khứ tốt đẹp thật nhưng trong đó rất nhiều điều ngây ngô đơn giản và nếu làm lại ta sẽ chẳng làm như thế.
  • Dù quá khứ tốt đẹp đến đâu thì nó cũng không phải là cái mẫu chúng ta làm theo. Mỗi thời mỗi khác, chúng ta phải biết tự khác đi trong hoàn cảnh.

CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ

Có một thời vừa mới bước ra
Mùa xuân đã gọi mời trước cửa
Chẳng ngoái lại vết chân trên cỏ
Vườn hoa nào cũng ở phía mình đi.

Đường chẳng xa, núi không mấy cách chia.
Trong đáy mắt trời xanh là vĩnh viễn
Trang nhật ký xé trăm lần lại viết
Tình yêu nào cũng tha thiết như nhau.

Có một thời ngay cả nỗi đau
Cũng mạnh mẽ ồn ào không giấu nổi
Mơ ước viển vông, niềm vui thơ dại
Tuổi xuân mình tưởng mãi vẫn tươi xanh

Và tình yêu không ai khác ngoài anh
Người trai mới vài lần thoáng gặp

Luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng
Tôi đã cười đã khóc những không đâu
Một vầng trăng niên thiếu ở trên đầu
Một vạt đất cỏ xanh rờn trước mặt...

Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc
Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa
Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già.

Tôi đã đi mấy chặng đường xa
Vượt mấy núi mấy rừng qua mấy biển
Niềm mơ ước gửi vào trang viết
Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư

Em yêu anh hơn cả thời xưa
(Cái thời tưởng chết vì tình ái)
Em chẳng chết vì anh, em chẳng đổi
Em cộng anh vào với cuộc đời em
Em biết quên những chuyện đáng quên
Em biết nhớ những điều em phải nhớ

Hoa cúc tím trong bài hát cũ
Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xưa
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.

Bài thơ làm 11-1984, in lần đầu trong số tết của báo Phụ nữ Việt Nam 1985 và có in lại trong các tuyển tập của tác giả, nhưng thường ít được chú ý. Ngày nay, người ta có xu hướng coi Xuân Quỳnh xa lạ với các vấn đề xã hội và chỉ là nhà thơ của tình yêu.

Nhận thức và Nhận thức lại 1

 Những Bài Học Từ Một Cây Bút Hải Ngoại

23.02.2024 - Vương Trí Nhàn

Khi được biết Nguyễn Thanh Việt (NTV) nổi lên do viết về chiến tranh dưới góc độ người tị nạn, tôi vẫn còn dửng dưng, đúng hơn là không dám nghĩ tới chuyện tìm hiểu. Phần vì không biết tiếng Anh và không có sách. Và phải nói là giữa biển sách báo ra đời hiện nay, những quyển sách tốt không có ai làm người dẫn truyền, mà sách của NTV cũng vậy. May quá hôm nay đọc trên BBC bài “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt” của Nguyễn Phan Quế Mai (NPQM)

Bài báo cho biết một số chủ đề ở NTV được triển khai như sau:

1/ CHIẾN TRANH. Tại sao chiến tranh lại xảy ra? Tại sao con người lại tiếp tục chia rẽ con người? Sự chia rẽ đó không chỉ tồn tại trong hoặc ngay sau cuộc chiến, mà hậu quả của nó còn kéo dài trong rất nhiều thập kỷ.

Trong truyện ngắn “I'd Love You to Want Me” (tạm dịch Em muốn anh khao khát em) , quá khứ - với những đường viền ảo mờ là chiến tranh và loạn lạc - có nguy cơ chia rẽ vợ và chồng. Bà Khanh - người phụ nữ phải hy sinh công việc mà bà yêu thích để có thể chăm sóc chồng - dần nhận ra rằng chồng bà đang nhầm lẫn bà với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ đó là ai và có vai trò thế nào trong thời gian chồng bà còn sống ở Việt Nam? Liệu việc bà và chồng đã cùng sống sót chuyến hành trình vượt đại dương, đã cùng vượt qua những ngày đầu ở California - nơi họ đã phải ăn đồ ăn mua bằng phiếu thực phẩm, mặc quần áo cũ do người khác bố thí - có đủ níu họ lại với nhau? [nghĩa là kinh nghiệm tị nạn liệu có lấn át kinh nghiệm chiến tranh - VTN]

2/ TỊ NẠN Di sản mà những người tị nạn chiến tranh thừa hưởng từ cha mẹ mình thường bao gồm sự nghèo đói, hoặc sự bơ vơ lạc lõng trên đất khách quê người. Theo NPQM, khi mô tả những di sản thường gặp đó, ngòi bút của NTV bám rễ vào thế giới nội tâm của những người tị nạn để cất lên tiếng nói về di chứng tâm lý hậu chiến tranh. Có một câu tuyệt vời được NPQM dẫn lại

'khi nằm trên giường và lắng nghe những đứa trẻ chơi nhắm mắt chạy trốn ở lối đi giữa những chiếc lều, anh cố gắng quên đi những người đã bám vào không khí khi rơi xuống sông, một số người bị đánh ngã trong sự hỗn loạn, một số bị những người lính đang tuyệt vọng tìm đường tháo chạy bắn vào lưng '.

3/ Các nhà văn VN hiện nay có phần lảng tránh chiến tranh. Số muốn tiếp tục khai thác các kinh nghiệm thời chiến thì lại bế tắc , không rõ nên viết cach nào. NPQM dẫn lại một câu của NTV : ‘'…Các tác phẩm của tôi, mặc dù chủ yếu nói về người Việt và cuộc chiến tranh Việt Nam, nói cho cùng là để hướng tới những chủ đề to lớn hơn - chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý. Lịch sử của bản thân tôi - với tư cách là người tị nạn mà cả hai đất nước đều không muốn đón nhận - đã khiến tôi trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.'

Thú thực chính vì đoạn văn có tính tuyên ngôn này mà tôi quyết định phải viết bài báo nhỏ này. Tôi muốn nhiều người chia sẻ ý tưởng đó của NTV.

Các nhà văn VN hiện nay cầm bút thường chỉ nghĩ chỉ lo cho cộng đồng mình. NTV đã mở ra một hướng mới , bảo đảm cho sức khái quát của tác phẩm. Tôi cũng tìm thấy ở đây cái lý do chính khiến cho NPQM đặt tên bài viết của mình là “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt”

Nhà báo Cam Ly là người đầu tiên viết phỏng vấn NTV trên báo Người đô thị số tết vừa rồi. Nhà nghiên cứu NPQM giới thiệu lại một lần. Tôi lại đồ lại lần nữa, xoàng quá. Nhưng tôi thấy vui vì biết đâu sau stt này, có thêm nhiều người đọc NTV, nhất là có thêm những nhà văn tìm cách viết lại về Việt Nam, chiến tranh và hậu chiến.

Nỗi Sung Sướng Của Kẻ Được Đồng Nghiệp Nhớ Lại Một Cuốn Sách Cũ

14.5.2022 - Vương Trí Nhàn

VuongTriNhan-01-01

Ảnh kèm theo là do tôi trích từ Fb Trần Đình Sử ngày hôm nay. Tôi đã cảm ơn anh trong mấy câu còm - men bên dưới ảnh nay xin ghi lại để các bạn cùng đọc.

"Xin cám ơn anh Sử còn lưu giữ kỷ niệm cũ.

Dăm năm sau tập CBĐN này. khi tôi làm tập sưu tầm Người xưa cảnh tỉnh và mon men định viết thói hư tật xấu người Việt rồi bị đánh hội đồng, có lần găp nhau ở HNV, anh còn ân cần gọi riêng tôi ra, động viên tôi, khuyên tôi đừng mất tinh thần.

Cách đây gần ba năm sau khi tôi đã bị tai biến, cùng Lại Nguyên Ân đến thăm tôi, lúc sắp về, anh còn nói nhỏ đủ cho tôi nghe tiếng rằng cùng với việc viết phê bình, VTN còn là một người viết văn - ý anh muốn nói các tập phiếm luận của tôi.

Những kỷ niệm ấy làm sao tôi quên được."

---

và NỖI SUNG SƯỚNG CỦA KẺ ĐƯỢC TÁI BẢN SÁCH

Nhân dịp này, xin "báo cáo" thêm với anh Sử và các bạn một chi tiết nữa:

cuốn CBĐN tôi tặng anh 20 năm trước là bản in lần thứ nhất.

Sau đó sách đã được tái bản hai lần.

Anh là nhà giáo dạy dỗ hàng ngàn hàng vạn sinh viên, sách viết ra tái bản là chuyện thường, có cuốn của anh in tới 7-8 lần, tôi biết.

Còn bọn như tôi, mỗi lần sách cũ được tái bản còn sung sướng hơn cả ra sách mới.

Đặc biệt CBĐN của tôi lần này 2021 được in ở nhà xuất bản Kim Đông mà lại nằm trong bộ sách "Bạn văn bạn mình" bao gồm 10 cuốn chuyên về chân dung văn học

10 cuốn đó là (xếp theo năm tháng in lần thứ nhất)

  1. “Phê bình và cảo luận” (Thiếu Sơn),
  2. “Hình dung và tâm tưởng” (Lan Khai),
  3. “Văn thi sĩ tiền chiến” (Nguyễn Vĩ),
  4. “Văn thi sĩ hiện đại” (Bàng Bá Lân),
  5. “Đốt lò hương cũ” (Đinh Hùng),
  6. “Chân dung văn học” (Nguyễn Tuân),
  7. “Mười chín chân dung nhà văn cùng thời” (Vũ Bằng),
  8. “Những gương mặt” (Tô Hoài),
  9. “Cây bút đời người” (Vương Trí Nhàn),
  10. “Bạn văn" (Nguyễn Quang Lập).

Trong danh sách này chỉ có hai người cuối cùng còn sống và tuổi "mới" bảy tám chục. Còn lại đều đã trên trăm tuổi và đã quy tiên.

Tết Hòa Bình 1973

8.2.2024 - Vương Trí Nhàn

3/2 (30 tháng chạp Nhâm Tí)

Phố xá Hà Nội chiều tất niên, tôi sống những giờ phút thảng thốt. Tết mà lại nắng, mọi thứ nhếch nhác cứ trơ ra trong nắng. Bụi bẩn. Xe đạp phóng ẩu. Những người đàn bà lo sinh kế. Mấy cô gái mới lớn thích diện nhưng nghèo. Những đứa trẻ hau háu đợi người đến bơm xe đạp. Trong khi đó thì người ta vẫn vui vẻ ra mặt. Thỉnh thoảng lại một tiếng pháo nổ rất bực mình.

... Chính vì muốn giải phóng khỏi tất cả những cái đó, tôi lánh đi, tôi quằn quại tìm cách đi. Lấy danh nghĩa phóng viên, tôi xin theo một chuyến xe lửa Hà Nội vào Vinh.

Đêm 30. Tôi đi để sống với những người khác, hay là để trốn chạy khỏi nỗi chán chường cá nhân-- hai cái đó thật khó phân biệt.

Người từ ga Hà Nội đi, lúc đầu tưởng độ 100, sau 700-800, 1000. Toàn là cán bộ nhà nước, với quá nhiều xe đạp.

Sau những đớn đau tê dại, tưởng như cuộc sống đã mất những thiêng liêng. Nhưng trong những ngày giờ như lúc này vẫn là những náo nức hy vọng.

Đêm nay, tôi sống giữa những người không quen biết, bởi chỉ có một chỗ giống họ là xa nhà. Nhưng cái chính là một không khí khác. Tôi được sống trên một cái gì đang đi. Giữa đêm đen, tôi sống biệt lập trong một vùng ánh sáng xa lạ.

Đến Nam Định thì giao thừa. Lòng tôi mơ theo lửa đỏ -- pháo hoa Hà Nội. Trong khi đó thì ở đây chỉ có những quả pháo nổ lẹt đẹt.

Ở một làng nào, lửa đỏ như vệt B52 trong đêm. Hay ai đó vui quá cho bắn pháo? Người ta nói chuyện gì lúc giao thừa, lúc vui?

Trên cái toa xe phần lớn bộ đội này, người ta lại nói chuyện chiến thắng. Nói tới tình thế. Nó chịu ta rồi. Nó sẽ cho ta mấy tỉ mỹ kim... Nhưng khi tôi hỏi mỗi người sang năm anh định làm gì, sang năm anh có kế hoạch gì -- thì không ai trả lời cả. Cũng như bom Mỹ đánh hôm trước, hôm sau trên báo có thơ ngay, còn khi tuyên bố hoà bình rồi, chả thấy ai hé răng gì cả.

- Hôm địch đánh 18, anh ở đâu?

Tôi hỏi câu đó với nhiều người. Ít ai có cái ấn tượng kinh khủng như tôi tưởng.

Trong khi đó, ngay chiều ba mươi trên tàu điện ở Hà Nội, một người đàn bà nói với tôi:

- Làng tôi may quá, chỉ chết có 4 người. Chẳng phải nói chứ chính là nhờ làng tôi làm hầm Cồn Cỏ. Thành ra cũng đỡ được nhiều lắm. Những làng khác, hầm đào nổi quây quây mấy hòn gạch, chết vô khối. Gớm hôm nó đánh xong, tưởng tất cả chết, chỉ mình mình còn sống. Sau thấy cũng còn nhiều người còn sống như mình. 

Có một cái gì đấy, như là bất mãn, nảy sinh trong lòng tôi. Bất mãn trước một thực tế già cỗi, trì trệ của đất nước.

Thời đại vừa có gì rộng quá, đến nỗi chúng tôi không hiểu hết được. Lại vừa như là chật quá, vớ vẩn quá, có nhiều chuyện, tôi nghe mãi phát chán.

Tôi vốn không tin rằng mọi xã hội có thể xoay chuyển nhanh. Sống trong xã hội này, càng thấy trì trệ. Vậy mà vẫn thường xuyên bực bội. Gần như muốn phát khóc vì tốc độ chậm rề chậm rệt của chung quanh. Nhớ có lần ngồi trên gác Câu Lạc Bộ Ba Đình nghe nói chuyện, nhìn xuống phía quảng trường, thấy những bóng người đạp xe qua lại lơ thơ. Như từ thế kỷ nào xa lắm hồi vọng lại. Vậy mà chốc nữa, giá tôi đi xuống đó, thì cũng lại tự nhiên y như mọi người khác, cắm cổ đạp vội.

Một ý của Nguyễn Khải (nhân bàn về tình trạng sau chiến tranh mọi người ít nghe đài):

-- Người ta chóng quên ghê lắm. Càng chóng quên là những việc không dây dưa gì đến người ta. Như mình, mình cũng chỉ chú ý tới họ khi chiến tranh, còn bây giờ hoà bình, ai làm gì thì làm, mình biết đâu? Cho nên, mình mới phải nghĩ và nghĩ ngay về cái chuyện thế giới quan tâm đến Việt Nam. Mà quan tâm hơi lâu. Đúng là nó có dính gì đó đến họ, dính về mặt trí tuệ đấy.

Những năm chiến tranh, nhiều dân tộc chia sẻ với chúng ta chống Mỹ với ý nghĩa là dân tộc Việt Nam phải có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình.

Nghe thế chúng ta thấy lòng ấm áp.

Nhưng sau đó rồi thì chúng tôi cảm thấy bơ vơ. Điều mà họ nghĩ, với điều mà chúng tôi nghĩ, là có khác. Họ chờ đợi thấy một Việt Nam khác nhưng chúng tôi lại không có cái điều mà họ đang mong.

Thường thì đôi lúc, tôi cứ kinh sợ vì những đứa trẻ. Nó là biểu hiện sức sống của nhân dân này một cách rõ rệt hơn. Biểu hiện rằng dân tộc này không chết.

Nhưng có chắc rồi có một sự sống thật sự, một sự sống ở trình độ cao? Hay đó chỉ là biểu hiện sự sống của một cái gì đang chết sẽ chết. Như một cá nhân, bao người đã chết để xã hội chết theo?

Những bậc thầy về công việc vá víu - người ta nói về Việt Nam là vậy.

Giá anh bảo một người Việt Nam rằng anh phải sống nghèo hơn, khổ hơn, anh không được đi đâu làm gì cả, anh sẽ rên xiết trong anh điều lạc hậu... thì người Việt Nam kia sẵn sàng gật đầu. Tôi không chết. Tôi vẫn sống. Và tôi còn sinh đẻ nữa. Thế là đủ.

Nhưng bảo rằng anh phải làm ăn cho khá hơn, anh phải bớt sinh đẻ đi, anh phải nâng cao cuộc sống anh hiện nay -- thì người Việt Nam kia cảm thấy rất mực khó khăn.

4/2/73

Vẫn trên chuyến tàu ấy nhưng nay đã là mồng một tết Quý Sửu. Ga Nam Định, Thanh Hoá 1500 khách. Ga Vinh - 2000 khách. Hành khách trung bình chờ 30-38 giờ.

Hành khách lịch sự nhất là khách Hà Nội Hải Phòng.

Hành khách khó tính xấu tính nhất là khách mấy tỉnh phía nam, Thanh Hóa, Vinh, những vùng chiến sự. Lên tầu, tìm ăn ăn xong, rải ni lông ra sàn ngủ.

Ninh Bình - thành phố của núi đá và những công trình của con người, ngay trên một miền đất phẳng.

Núi rất nhọn, sông rất xanh, và cỏ rất cằn, đất rất rộng, đó là Ninh Bình. Những đoạn đường bụi đỏ hai bờ cây lá. Nông trường Đồng Giao nhà chỉ còn tường, nhiều đoạn đường mòn đi qua nền nhà.

Ngày tết thành phố chen chúc khác thường. Còn như ở đây, buổi sáng mùng một im lìm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe com măng ca hoặc một chiếc xe đạp.

Những người lớn đâu cả, chắc đang chè chén, bàn việc với nhau trong nhà. Chỉ có đám trẻ con chạy ra đường. Trẻ con từng đám, đứng chen chúc đầu ngã tư. Hàng chục đứa, cùng một màu áo xanh trứng sáo. Chúng nó không hết ngạc nhiên trước những đoàn tàu đi qua. Chúng nó băm bổ chạy dọc con đường sắt:

- Chúng mày được nghỉ học mấy ngày?

- Được nghỉ đến mùng 3 thôi. Giá kể đến mùng 4, mùng 5 thì thích.

...

- Lớn lên chúng mày đi bộ đội nhớ

- Vâng. Vâng... Thích lắm.

Hàm Rồng. Lại những khung cảnh chiến tranh. Một địa thế rộng. Lèn đá vệt bom đã cũ, lẽ ra, con đường bò ra, đường đầy bụi. Những chiếc xe tải vập vạp, lúc lẫn vào đoạn đường bụi đỏ, lúc lẫn vào đoạn đường bụi trắng.

Mờ sáng, đoàn xe tải chở phà bật đèn đi.

Càng sáng, càng nhiều xe.

Chỉ có những đoàn xe là gợi cảm giác đông vui. Khung cảnh khu vực nhà máy điện cũ nát như sống lại. Hố bom, cái thì cỏ lên xanh, cái thì còn đỏ miệng. Dáng người đi, lẫn vào trong đường xá trời đất. Mấy người đàn bà đi cắt cỏ. Cỏ dại. Người bây giờ cũng như là một giống cây dại. Ở thành phố, người nhiều, người lúc nhúc. Thành phố nghĩa là nơi đâu người ta cũng thấy dấu vết của con người, những vạt cỏ, những ánh đèn, bóng nhà cao. Vậy mà ở những quãng sông nước này, thiên nhiên khắc nghiệt và hoang vu quá. Hoang vu đến mức những mái nhà bị bỏ quên cũng trở nên ngất nghểu. Dấu vết con người sao quá nhạt nhòa.

Có lẽ vấn đề trung tâm mà tôi muốn để tâm nghĩ trong những ngày tới - bộ mặt của một đất nước sau chiến tranh. Những di luỵ của bom rơi máu đổ trong đời sống và trong tâm lý mỗi con người trong xã hội. 

Hoà bình có một nghĩa chung với tất cả mọi miền. Nhưng với mỗi vùng miền, hoà bình lại có một nghĩa khác. Đối với Khu 4, hoà bình có nghĩa là một cuộc sống trở lại trên mặt đất.

Những cụm ga những đoạn cầu, nó như là nơi đối mặt của hai phía chiến tranh và hòa bình. 

Ngổn ngang, không bao giờ mặt đất hết ngổn ngang. Những gì tàn phá chưa chịu lẩn đi mà còn chềnh ềnh đó. Nhưng một cái gì chủ yếu nhất -- sức hoạt động -- thì đang tự nó làm nên ấn tượng một sự thay đổi. Sự tình là cái sống phải lấn cái chết từng bước một. Phải gạt cái tàn phá sang một bên để mà gắng gượng đi lên.

08 tháng 3 2024

NVN - 2 - Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn

chungta

05:29 CH @ Thứ Sáu - 16 Tháng Năm, 2014

Clip nữ sinh bạo lực khuấy động dư luận. Nhiều người sửng sốt vì tình trạng bạo lực học đường. Nhiều người khác giật mình chất vấn giáo dục, xã hội. Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt mà ta không tự thấy.

Xem thêm:

Năm nay gần 70 tuổi, Vương Trí Nhàn đã làm phê bình lý luận văn học trong vài thập kỷ và sau này chuyển sang nghiên cứu văn hoá. Ông được biết đến là một trong những người đầu tiên chủ trương nghiên cứu về những thói hư, tật xấu của dân tộc Việt Nam và là người được chú ý nhất trong mảng công việc này.

Loạt bài viết của ông về các thói xấu của người Việt được đăng tải thường kỳ trên báo Thể thao & Văn hóa cách đây vài năm đã trở thành một chuyên mục thu hút sự chú ý của nhiều độc giả và gây ra tranh luận nhiều chiều. Thậm chí, có nhiều người mong muốn có thể tập hợp thành sách “Người Việt xấu xí”, tương tự cuốn sách gây sốc Trung Hoa đại lục mang tên “Người Trung Quốc xấu xí” của tác giả Bá Dương.

Năm 2007, khi vụ scandal clip sex Vàng Anh - Việt Dart nổ ra, trong khi dư luận ầm ĩ xung quanh vụ việc này, trong khi nhiều người cũng sửng sốt và giật mình không khác gì với hiện tượng clip nữ sinh ẩu đả vừa qua… thì Vương Trí Nhàn nhìn vào sự kiện theo một cách tiếp cận rộng hơn ở góc độ dân tộc tính. Nhận định của ông “Dân tộc Việt là một khối tự phát khổng lồ” trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo mạng ngay lập tức dấy lên một làn sóng tranh luận với nhiều ý kiến đa chiều: Có nhiều ý kiến cực lực ủng hộ và không ít tiếng nói phản đối gay gắt.

Ở hiện tượng xã hội gây xôn xao dư luận lần này, những nhìn nhận của ông cũng mang lại cái nhìn tương đối rộng mở và mới mẻ. Và, đương nhiên, cũng không ít ý kiến có thể sẽ gây tranh cãi… Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy đây là hướng suy nghĩ cần được tiếp tục bàn luận.

Dưới đây là trao đổi ông với Vnmedia trên tinh thần này.

Sẽ còn những biểu hiện bạo lực mới

Tuần qua cả xã hội xôn xao với clip nữ sinh đánh hội đồng bạn trên phố. Nhìn nhận của ông xung quanh hiện tượng này?

Việc các em nữ đánh bạn dã man như trong clip là biểu hiện của một cách sống mà trong đó bạo lực trở nên cần thiết trong giao tiếp giữa người với người, mà người ta cho rằng, lời lẽ thông thường không còn đủ để tác động tới người khác.

Cảnh tượng trong clip này là sự tràn ra của một cái gì đó đã đến mức không bình thường… Nếu đọc báo những năm qua sẽ thấy nhiều hình thức bạo lực trong xã hội. Ngay trong môi trường giáo dục, không biết bao nhiêu vụ hoặc các cô trông trẻ bạo hành với trẻ con, hoặc các thầy cô giáo đánh phạt học trò hay các học trò đánh lại thầy cô giáo…

Những việc như thế này tôi cho rằng sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện mới, với những cấp độ rồi sẽ còn cao hơn. Nếu chúng ta không tính chuyện chữa trị lâu dài, và trước tiên là tìm về tận gốc để lý giải một cách khái quát, rồi thì sẽ còn lĩnh đủ.

Có thể hiểu như thế này, sự xuất hiện của clip nữ sinh bạo lực kia trong xã hội tương tự như việc một người huyết áp thấp bị ngã ngất lần đầu. Họ hẳn là ngỡ ngàng nhưng cái sự ngất ấy nó không hề ngẫu nhiên. Và nếu chưa biết là mình bị huyết áp thấp, người ta sẽ không ý thức là mình có thể đối diện nguy hiểm hơn trong những lần ngất tiếp theo?

Tôi chia sẻ với lối ví này của bạn ở khía cạnh: Nhiều khi phải có những “cú điếng người”, ta mới hết nhởn nhơ coi thường và bắt đầu nhận ra những thứ tiềm ẩn trong mình. Cái nguy hiểm hôm qua đã đáng sợ, nhưng cái nguy hiểm tiếp theo mới thật đáng bàn.

Bây giờ thử bình tĩnh mà nhìn lại xem, hóa ra trong nhiều mặt đời sống người Việt, mầm mống bạo lực đã có mặt và ta đã chung sống với nó quá lâu - cái cách sống bạo lực ấy - mà ta không biết.

"Những việc như thế này sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện mới, với những cấp độ rồi sẽ còn cao hơn"

Tôi muốn nhấn mạnh hai điều.

Một là, sở dĩ có hiện tượng lớp trẻ sống với nhau theo kiểu bạo lực, vì người lớn cũng hành xử theo kiểu bạo lực. Xã hội đen. Giới giang hồ thanh toán nhau. Những vụ cướp giết hiếp, và cả những vụ nợ tình, trả thù… Có quá nhiều sự việc trong xã hội mà chúng ta chưa phản ánh hết, chưa có dịp phân tích soi rọi.

Hai là, trước khi có những biểu hiện cực đoan theo kiểu bột phát nói trên, nhiều hình thái tạm gọi là tiền bạo lực cũng đã nhan nhản trong đời sống hàng ngày. Muốn ép người ta phải nghe mình điều gì đấy nói một lần chưa đủ, nói đi nói lại hàng trăm lần, bắc loa vào nhà người ta lải nhải…

Ai đi cầu cúng đầu năm hẳn nhớ cảnh dân địa phương nhiều nơi vừa thấy người đi chùa thì áp sát, bắt người ta mua đồ cúng của mình, lèo nhèo nói đi nói lại, không mua thì chửi xéo chửi đổng, đốt vía đốt vang… Đấy là tiền bạo lực chứ còn gì nữa?

Lâu lắm rồi từ 1999, tôi đọc trên báo Nông thôn ngày nay thấy một hiện tượng kỳ cục ở một tỉnh nhỏ. Giữa công ty X và công ty Y có sự tranh chấp. Để trả thù, bên Y liên tiếp gửi tới bên X những chiếc quan tài và các vòng hoa tang, trong đó đề rõ tên tuổi kẻ thù của mình. Kiểu khủng bố độc đáo này thật tiêu biểu cho người mình, tức là ác vặt, nhưng mà cứ ác một cách dai dẳng đáng sợ.

Đạo diễn Xô viết Mikhail Rom từng có một bộ phim mang tên “Chủ nghĩa phát xít thông thường”. Ở ta giá có ai bắt chước mà làm một bộ phim “Chủ nghĩa bạo lực thông thường”, chắc cũng dễ có một tác phẩm có sức răn đe với xã hội.

Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt

Ở trên ông vừa nói nhiều mặt trong đời sống đã tiềm ẩn yếu tố bạo lực mà ta không ý thức.. Ông có thể nói rõ hơn một chút về cái ý này?

Gần đây tôi đã viết trong một bài báo, ngay cách đi đường của người Việt Nam hôm nay cũng có tính chất bạo lực. Chúng ta có xu hướng chen lấn, xô đẩy, chèn ép người khác để vượt lên... Không ở đâu tiếng còi bị lạm dụng như ở ta. Nó có tính hối thúc, đe nẹt, doạ dẫm… Nghe trong tiếng còi như toát lên một lời đe dọa: nếu không tránh cho tôi đi, anh sẽ biết mặt.

"Ngay cách đi đường của người Việt cũng có tính chất bạo lực"

Thơ văn cho thấy chúng ta yêu thiên nhiên, sống chan hoà với cỏ cây, hoa lá. Nhưng trong đời sống tôi thấy tình yêu thiên nhiên này… chạy đi đâu cả. Văn học nói cái điều ta muốn, nhưng trong đời sống ta hiện ra hoàn toàn khác. Để tự nuôi sống, ta chưa biết tìm thêm cách để làm giàu thiên nhiên mà nhiều khi chỉ lo bóp nặn, bóc lột thiên nhiên.

Khách quan mà xét, đứng ngoài mà nhìn, phải nói đó là một cách ứng xử khá tệ bạc. Chặt cây, phá rừng, đốt rẫy… ta làm những việc đó vô tư chứ chả cần quan tâm gì đến thiên nhiên. Đến khi no đủ rồi thì lại bẻ hoa, ngắt cành vì thú vui của mình. Những dịp lễ tết cây cối xơ xác vì bị vặt cành làm lộc. Rồi các sự việc ở lễ hội hoa anh đào năm trước và lễ hội hoa đầu năm dương lịch vừa rồi. Chẳng nhẽ không nói đó là cách sống bạo lực?

Chúng ta cũng không phải là dân tộc yêu thương các giống vật. Các loài thú quý hiếm đang đứng trước nạn tận diệt. Ở nhiều nơi người ta sẵn sàng dùng điện, dùng chất nổ đánh cá... Rất nhiều người phương Tây ngạc nhiên vì chúng ta ăn thịt chó, là vật nuôi mà họ coi như bạn bè của con người.

Từ tháng 4 tới, Trung Quốc chính thức cấm ăn thịt chó mèo. Ở ta tôi không nghĩ được là bao giờ có thể có một lệnh cấm tương tự. Nhiều cuộc chọi trâu xong, dân sở tại mổ ngay con trâu vừa đoạt giải để bán cho dân tới xem. Chẳng có luật pháp nào kết tội người ta được, nhưng tôi cứ luấn quấn với ý nghĩ làm thế là một cách gieo mầm bạo lực mà ta không biết.

Sôi sục đấy, rồi lại quên đi rất nhanh

Thử nhìn lại sự việc. Các em trị nhau ngay giữa phố một cách bạo lực. Bạn bè thản nhiên ngồi nhìn. Không thấy ai đứng ra can ngăn. Khi quay xong hình, các em khoái trá post lên mạng, nhiều người truyền cho nhau qua internet để cùng xem clip đó. Đó là một chuỗi sự vô cảm cho đến khi thành sự kiện hot thì xã hội mới bùng lên chất vấn. Ông có bình luận gì thêm về việc này?

"Vô cảm rồi bùng lên chất vấn rồi lại quên đi rất nhanh"

Từ lâu phương Tây người ta đã nói đến sadism với nghĩa thói quen thích thú những trò tàn ác bao gồm cả quan sát người khác làm lẫn tự mình thực hiện. Những tưởng đó là chuyện đâu đâu, hóa ra xứ mình không phải không có.

Ngoài ra tôi muốn ghi nhận một tình trạng nước đôi thế này: Không hẳn là vô cảm đâu, nhiều người chúng ta cũng đang xúc động lắm. Chỉ có cái dở là rồi chúng ta lại quên đi rất nhanh. Tôi nhớ những lần lòng mình sôi lên thầm hứa nhất định không bỏ qua chuyện nọ chuyện kia. Nhưng chỉ ít lâu sau là tôi quên hết.

Để vượt lên sự nông nổi, tôi chỉ muốn nhân dịp này chúng ta cùng suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống.

Nguồn: VnMedia

NVN - 2 - Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ

Vương Trí Nhàn

chungta

07:16 SA @ Thứ Năm - 01 Tháng Mười, 2015

Soi rọi các hiện tượng xã hội dưới ánh sáng văn hóa - đó là công việc mà nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn đang theo đuổi. Dưới đây là những chia sẻ của ông với phóng viên VietNamNet nhân một câu chuyện thời sự.

Người Việt duy tình, cạn nghĩ, ăn xổi

"Tôi không coi duy tình là một niềm tự hào. Trái lại, ta phải tính để vượt lên một trình độ sống khác".

Suốt tuần nay, dư luận ầm ĩ xung quanh sự kiện 1 diễn viên trẻ bị đưa chuyện phòng the lên mạng. Từ góc độ một người nghiên cứu văn hóa, nhận định của ông về việc này ra sao?

Có hai hiện tượng để nhìn nhận.

Thứ nhất, việc tự quay phim ghi lại chuyện ân ái của mình, chứng tỏ một bộ phận lớp trẻ hiện nay có lối sống khá bế tắc, bất cần, muốn vượt ra ngoài các lề thói đạo đức thông thường.

Thứ hai, việc dư luận sôi sục lên trước sự kiện ấy, chứng tỏ chúng ta có một đám đông rất nhạy cảm, dễ bị kích động. Song tôi dự đoán, rồi cũng giống như một vài vụ trước, như vụ các cô dâu lấychồng Đài Loan, Hàn Quốc, nó chỉ là hiệu ứng lửa rơm.

Lối sống thác loạn của một bộ phận giới trẻ không phải bây giờ mới có. Chờ nó được đưa ra sân chơi công cộng, mới nảy sinh "làn sóng" chú ý, mổ xẻ, lên án nó thì muộn quá rồi còn gì. Lẽ ra với một thái độ kiên trì và bình tĩnh, chúng ta phải mang ra bàn bạc từ lâu, vừa bàn vừa lắng nghe và chờ đợi. Cả buông xuôi lẫn nóng vội ở đây đều vô nghĩa, nếu không muốn nói là có hại.

Tức là, theo ông, hiện tượng dư luận ồn ào quá mức xung quanh một chuyện cá nhân là bất thường?

Không hẳn bất thường. Như người ta vẫn nói, nước mình nó thế. Từ thuở chỉ quanh quẩn trong các làng xã, chúng ta vẫn có lối phản ứng như vậy. Nó là một đặc điểm của tính cách người Việt.

Tôi nhớ, trong một bài báo gần đây, ông Trần Ngọc Thêm (nhà nghiên cứu văn hoá - PV) có nói: Đặc điểm tính cách, người Tây là duy lý, người Tàu là duy ý chí còn người Việt là duy tình. Chữ tình, nói theo chữ của ông Thêm, là lối sống giàu tình cảm, trọng tình nghĩa của người Việt.

Nhiều người cũng nghĩ như ông Thêm.

Phần tôi, tôi cho rằng chỉ nên nói đặc điểm người Việt là tính tự phát rất lớn, thường là những cơn xúc cảm bùng lên, song không trải qua những suy ngẫm nên sẽ qua đi nhanh.

Tức, tôi không coi duy tình là một niềm tự hào. Trái lại, ta phải tính để vượt lên một trình độ sống khác.

Cụ thể hơn, theo ông, "sự duy tình" có những điểm nào không đáng để tự hào?

Cả sự kém duy lý (vận dụng đến cùng trí tuệ) và kém duy ý chí (sự thôi thúc của tham vọng) đều góp phần kìm hãm sự phát triển của chúng ta.

Kém lý trí dẫn đến nông nổi, cạn nghĩ. Kém ý chí dẫn đến ngắn hơi, ăn xổi. Cái gọi là duy tình rút lại là đồng nghĩa với bột phát, tùy tiện, lúc thế này lúc thế khác, và thường không dẫn đến sự sáng suốt cùng những quyết sách hợp lý, nhất là trong xã hội hiện đại.

Như trong câu chuyện phần trên chúng ta vừa nói: cả các bạn trẻ hiện nay cũng sống truồi theo cảm hứng tự phát, không nghĩ đường xa. Mà dư luận cũng tự phát, ầm ĩ đấy rồi cũng bỏ qua ngay đấy.

Đằng sau nó là những nguyên nhân sâu xa...

Dân tộc Việt là một khối tự phát khổng lồ

"Người Việt ít đặt vấn đề dụng công nghiên cứu cái gì cho sâu, cho kỹ".

Vậy là, từ một hiện tượng ồn ào trong dư luận hiện nay, ông muốn lưu ý tới những nguyên nhân sâu xa. Liệu có gượng ép quá không?

Tôi không ngại, miễn là chúng ta cùng lắng nghe nhau một chút.

Nhưng, liệu cách nhìn nhận của ông về cốt cách sống của dân mình quá cực đoan và khắt khe? Người Việt xưa nay vẫn tự hào là một dân tộc hiếu học, thông minh và có sức chịu đựng, bền bỉ?

Các phương tiện truyền thông và cả bản thân chúng ta vẫn thường tự ve vuốt mình bằng những nhận định như mấy chữ bạn đã dùng.

Còn tôi, sau một giai đoạn nghiên cứu về văn hoá và tính cách Việt, tôi mạnh dạn sử dụng hình ảnh “một khối tự phát khổng lồ".

Nói vậy có thể gây tự ái cho ai đó và có thể gây tranh cãi. Ngay như bản thân tôi, cũng đã nhiều lần tự tìm cách phủ định nó, nhưng hiện tại tôi vẫn chưa tìm ra được dẫn chứng phủ định thuyết phục.

Người Việt ít đặt vấn đề dụng công nghiên cứu cái gì cho sâu, cho kỹ. Chúng ta tự cho phép sống theo thói quen, nếu như có nói đến các lý thuyết, các định hướng nọ kia thì chủ yếu là đi thừa hưởng các kết quả nghiên cứu từ các dân tộc khác. Thêm nữa, chỉ treo lý thuyết lên gọi là có, chứ vẫn sống theo cách của mình.

Tôi ví dụ, đơn giản nhất là trong đời sống tôn giáo. Với đạo Phật, chúng ta hiểu biết lơ mơ. Về tất cả các lý thuyết, hầu như không nghiên cứu gì cả, chỉ toàn là truyền miệng với nhau, trong tu thì chỉ "thiền", "ngộ", tức là ngồi để tự nhiên nghĩ ra cái gì đấy.

Tôi nghĩ lối sống này làm nghèo chúng ta đi, từ sự trống vắng, kết quả thu được cũng chẳng gì hơn cũng là trống vắng. Trong khi ấy, thử so sánh, người Trung Quốc có không biết bao nhiêu pho kinh, chẳng hạn như ông Huyền Trang sang tận Ấn Độ lấy về, dịch ra, họ đã mang lại cho đạo Phật một sức sống mới.

Bàn một chút về đặc điểm tính cách dân tộc. Theo ông, có những nguyên nhân nào tác động đến điều này?

Khi nhìn vào những ngổn ngang trong đời sống trước mắt, nhiều người có ý cho rằng đó là bởi các lý thuyết mà chúng ta theo đuổi, chẳng hạn lý tưởng cộng sản... này khác. Tôi thì lại thấy những nguyên nhân sâu xa cơ bản là nằm trong cái cốt cách mà dân tộc đã hình thành trong lịch sử.

Hiểu rõ nguồn gốc dân tộc, sự hình thành của dân tộc mình là một trong những cách để nhận chân lại mình.

Nói một cách thô thiển nhất thì như thế này: mỗi khu vực địa lý tạo ra một giống người với đặc điểm riêng của họ.

Chúng ta là người xứ nóng, vùng nhiệt đới được thiên nhiên ưu đãi, nên một mặt dễ sống, một mặt khác, nó tạo cho ta tính dễ dãi.

Người xứ nóng thường có cuộc sống đơn giản. Trước đây, thời các cụ, chẳng cần có quần áo cũng tồn tại được. Ngay trước Cách mạng tháng Tám, dân ta còn rất nhiều người đi chân đất.

Trong khi đó, người xứ lạnh, thời tiết khắc nghiệt đòi hỏi họ phải chuẩn bị cho cuộc sống cẩn thận hơn. Ngay từ ngôi nhà, đến ăn mặc phải bền chắc hơn, có sức chịu đựng hơn... Tất cả những điều này ảnh hưởng một cách vô thức đến tính cách dân tộc.

"Nuôi dưỡng ảo tưởng"

Sau những nguyên nhân ban đầu ấy, mọi chuyện đã phát triển ra sao?

Một công cụ để một dân tộc nào đó tư duy, là chữ viết. Việc không hình thành cho được một thứ chữ viết riêng mang lại cho chúng ta rất nhiều hạn chế. Chính nó khuếch đại thêm cái khía cạnh nông nổi tự phát mà chúng ta nói từ đầu.

Thời trung đại việc dùng chữ Hán đã mang lại cho chúng ta bao thiệt thòi. Rồi sau này, do lịch sử đổi thay, lại dùng chữ hệ Latinh. Lâu nay người ta chỉ thích nhấn mạnh rằng chữ Latinh góp phần thúc đẩy xã hội tiến tới. Tôi cũng thấy thế, nhưng lưu ý thêm chữ quốc ngữ càng làm cho chúng ta cẩu thả trong nói và viết. Nếp tư duy hời hợt lan rộng.

Việt Nam, xét trong lịch sử, là một nước trải qua khá nhiều các cuộc chiến tranh. Yếu tố này có góp phần ảnh hưởng đến cái gọi là tính cách dân tộc không, theo ông?

Tất nhiên rồi. Trên nét lớn, chiến tranh ở ta còn để lại dấu vết nặng nề và càng lảng tránh nó, chúng ta càng bị nó ám.

Không cần có kinh nghiệm nhiều thì người ta cũng có thể biết chiến tranh là tình trạng ăn xổi, ở thì, lúc đó, trong khi sống với những mơ tưởng xa vời, thực tế là người ta lại chả biết rõ ràng ngày mai của mình như thế nào.

Cụ thể hơn, 2 cuộc chiến lớn của dân tộc trong thế kỷ vừa qua, để lại dấu ấn như thế nào trong đời sống tinh thần người Việt?

Chuyện lớn quá, cho phép tôi chỉ nói một điểm có tính cách xuất phát: phải nói chính ra chiến tranh nuôi dưỡng ảo tưởng. Ta không biết rõ ta đã trở nên như thế nào. Ta tưởng rằng, sau chiến tranh, mình còn nguyên vẹn, nhưng thực ra mình đã mất mát rất nhiều. Nhìn vào nhiều mặt đời sống, tôi cảm thấy so với trước chiến tranh, có một bước lùi. Con người ít tham vọng hơn, dễ dãi với mình hơn mà lại buông thả hơn.

Ông có cực đoan quá không? Có nhiều ý kiến cho rằng, chính cuộc chiến này đã khơi dậy, đánh thức được tiềm năng của các thế hệ?

Tôi cho rằng, nhận định đó là đúng nhưng chưa đủ, khi nói vậy chúng ta chưa thấy hết sự thực. Cuộc kháng chiến chống Pháp còn vừa sức với dân tộc ta. Còn cuộc chiến chống Mỹ ư? Với tư cách một người vừa lớn lên thì bước vào chiến tranh, tôi muốn nói rằng nó to lớn vĩ đại, nó kinh khủng quá, nó hút hết sức lực của cộng đồng. Chiến tranh ở ta như việc một người nhỏ bé phải đối mặt với một thách thức quá sức. Vẫn làm được đấy, nhưng sau đó sẽ mệt mỏi, một sự mệt mỏi kéo dài cho đến hôm nay.

Việc nghiên cứu tính chất của xã hội hậu chiến ở ta ít được xem trọng. Nhưng nhìn đâu cũng thấy.

Cả việc lớp trẻ lao đầu vào cuộc hưởng thụ lẫn một dư luận xốc nổi, khi quá khắt khe khi quá dễ dãi, tức là câu chuyện mà chúng ta nói từ đầu đến giờ, cũng là hiện tượng thường thấy ở các xã hội hậu chiến.

Nguồn: Vietnamnet

NVN - 2 - Lớp trẻ cần tự hình thành hệ thống giá trị mới

Nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn chia sẻ

chungta

Hoàng Lê (thực hiện)12:39 CH @ Chủ Nhật - 17 Tháng Ba, 2013

"Lớp trẻ hiện nay mang trong mình cả một tiềm năng ghê gớm lẫn cả tai hoạ tiềm tàng. Nếu không biết khai thác, thật khó đoán biết điều gì sẽ xảy ra... Tôi muốn nói rằng, các bạn trẻ cứ yên tâm. Xã hội ta luôn đón chờ những tài năng trẻ". Nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn chia sẻ.

• Vương Trí Nhàn: "Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ"

Lanh, khôn, nhưng thiếu chắc chắn

- Có nhiều ý kiến khác nhau về lớp trẻ bây giờ: cả lạc quan lẫn bi quan. Còn ông, ấn tượng chung về họ ở ông ra sao?

- Ở bạn trẻ bây giờ, cảm giác tự do rất mạnh. Hơn hẳn cái đó ở bọn tôi. Thời trước, chúng tôi rón rén, khép nép, cái gì cũng sợ. Chúng tôi chờ đợi được cho phép làm... mà vẫn vui vẻ với điều đó.

Các bạn giờ sống với cả thế giới rộng lớn, nhiều bạn có cảm giác mình là công dân thế giới. Chúng tôi xưa quanh quẩn trên mảnh đất quen thuộc. Nhớ lần đầu đi qua biên giới thì tim đập thình thịch.

Song đằng sau vẻ rất lanh, rất khôn, tiếp cận và hiểu biết nhiều, lớp trẻ bây giờ lại gợi trong tôi một cảm giác thiếu chắc chắn, trên đại thể lại lờ mờ, thiếu ước mơ lớn. Hình như họ có cảm giác bi quan, không bao giờ đạt được lý tưởng cao cả nữa.

Họ có thể phóng đi rất nhanh để rồi chả biết làm gì ở cái nơi vừa đến. Đằng sau cái vẻ vội vã của họ hình như ẩn giấu một nỗi thèm thuồng, chỉ sợ không được hưởng hết mọi lạc thú ở đời. Trong sự vội vã ấy, họ lại không có khả năng dò vào chiều sâu của cuộc sống.

Tôi đã nói người mình là một khối tự phát và lớp trẻ thường là lớp người nhạy cảm nhất, dễ gây bất ngờ nhất. Lớp trẻ hiện nay mang trong nó cả một tiềm năng ghê gớm lẫn cả tai hoạ tiềm tàng. Nếu không biết khai thác, thật khó đoán biết điều gì sẽ xảy ra.

- Ông có thể cắt nghĩa hiện tượng này?

- Tuổi trẻ bao giờ cũng bị ảnh hưởng ngang bởi tinh thần thời đại nhiều hơn là ảnh hưởng dọc từ thế hệ cha ông. Mà thời đại ta nói chung là thời đại của cái gì đó vỡ ra dang dở và chưa được sắp xếp lại.

Nước ta vẫn đang trên đường phát triển, nói theo thuật ngữ xã hội học là trong quá trình chuyển đổi. Con người bước từ chỗ tối ra chỗ sáng, nên đôi khi cảm giác vẫn còn bị ngợp và chập choạng, lúc thì tự tin quá, lúc lại tự ti quá. Cái này thấy rõ ở giới trẻ. Tôi nhớ một nhân viên tuyển dụng nước ngoài thường tiếp xúc với SV mới ra trường, có nhận xét, SV ta nhiều khi nói nhiều điều mà mình không biết, đến lúc hỏi kỹ thì lại trở nên lúng túng.

So với lớp trước, lớp trẻ hiện nay có cảm giác về tự do tốt hơn, nhưng nhiều lúc điều đó đồng nghĩa với bơ vơ, mất phương hướng, không xác định được mình.

Trong nhiều trường hợp, họ hiểu rất sai về tự do. Tự do không phải là bột phát, muốn làm gì thì làm. Mà tự do là sự hiểu biết chung về bản thân, về hoàn cảnh và cách sống thích hợp với hoàn cảnh, đồng thời khẳng định bản thân mình.

Tự do cao nhất là tự do về mặt tinh thần, liên quan đến nội lực con người, sự phong phú trong tinh thần của họ, chứ tự do không phải là lăn ra đường để khẳng định cái tôi. Đa số giới trẻ hiện nay, tự do bề ngoài thì có nhưng sâu sắc bên trong thì không. Điều này dẫn đến việc họ không tìm được cách khẳng định mình, mà trút cái gọi là tự do vào những hành động ngông cuồng bề ngoài.

- Nói một chút về sự mất phương hướng của lớp trẻ. Ở Mỹ từng có một "thế hệ vứt đi" sau Thế chiến I, và một thế hệ hippy trong chiến tranh Việt Nam, mất niềm tin vào cuộc sống. Ở Nhật cũng có một thế hệ khủng hoảng niềm tin... VN trải qua một cuộc chiến lâu dài, đang trên đường phát triển và sẽ phải đối mặt với cả những hiện tượng xã hội đi kèm. Ông có nghĩ một điều tương tự ở đây?

- Bất cứ một xã hội nào, sau thời gian chiến tranh, con người cũng đều cảm thấy đời là trống rỗng... Đây là bệnh chung của xã hội thời hậu chiến. Còn xã hội hiện đại mà phát triển nóng quá, giới trẻ chịu áp lực thì cũng dễ gây những hiệu ứng tâm lý. Ngay cái ham hưởng thụ, sống gấp... cũng là một biểu hiện.

So với các nước cũng trải qua chiến tranh, tôi cho là ở VN, tình hình tương tự còn trầm trọng hơn nhiều. Thiếu một sự quan tâm thường xuyên, thiếu một cái nhìn kỹ lưỡng, thiếu một sự nhận chân, như thế này sẽ luôn luôn có scandal chờ sẵn.

Tuy nhiên, ở VN, lối phản ứng của con người không bao giờ quyết liệt cả, mà thường tản mát, tự bó hẹp, làm nghèo mình đi.

Không nên dạy trẻ về một xã hội ảo tưởng

- Nếu làm phép so sánh tương quan với các thế hệ trước, ông đánh giá lớp trẻ bây giờ nằm ở vị trí nào?

- So với lớp cha anh thì họ đã có nhiều cái mới. Nhưng, so với yêu cầu thời đại thì còn đòi hỏi một sự phấn đấu cao hơn hẳn.

Đầu thế kỷ XX, nước ta có sự hội nhập mạnh mẽ với thế giới, với văn minh phương Tây.

Cả một lứa như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Anh... thực sự tạo dựng được một nền tảng học thuật vượt xa các bậc tiền bối.

Trong văn học nghệ thuật, một thế hệ các nhà khoa học, các nhạc sỹ, hoạ sỹ, nhà văn... để lại dấu ấn mạnh mẽ.

Lấy đơn cử, các tác giả thời ấy như Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam... có số lượng người đọc đông đảo, trước họ chưa từng có. Tức là sức ảnh hưởng vào thời đại của họ cũng rất lớn.

Thời Pháp thuộc, 15-16 tuổi người ta đã đi làm công chức và đã có sự trưởng thành về mặt xã hội. Không ai có thể nghĩ là Vũ Trọng Phụng chết non được, vì tuy mới 27 tuổi ông đã có một sự nghiệp hoàn chỉnh.

Sau đó, thế hệ thanh niên sinh khoảng trước sau 1930 và bắt đầu lập nghiệp từ sau giai đoạn Cách mạng tháng 8 1945 cũng để lại trong tôi một ấn tượng rõ rệt. Các nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, các nhạc sĩ như Nguyễn Đức Toàn, Huy Du… làm nên một bước chuyển mới trong sinh hoạt văn nghệ. Các tác phẩm để đời của họ thường được viết ngay khi họ mới 20-25, thậm chí còn trẻ hơn nữa.

- Thế còn thế hệ các ông, thế hệ thanh niên trong chiến tranh chống Mỹ, cũng là một thế hệ ưu tú mà nhiều người thường nhắc đến với một sự hoài niệm tự hào?

- Cuộc chiến tranh vắt kiệt sức của một thế hệ, nhưng không phủ nhận, nó cũng tạo động lực để thế hệ ấy phát huy được tốt nhất tinh hoa của mình.

Tuy nhiên, khơi dậy nội lực theo cách này giống như khai hoang, chỉ được 1 lần. Vấn đề là chúng ta phải thâm canh. Chúng ta phải đào tạo ra những người luôn có thể làm ra những thứ tinh hoa, 1 lớp người tinh hoa.

- Vậy, theo ông, làm sao để "thâm canh" trên thế hệ trẻ hiện tại 1 cách tốt nhất?

- Hiện tại, đã qua rồi cái thời xây dựng thông điệp qua những điển hình.

Trước đây, chúng ta cứ hay dạy trẻ "ở hiền gặp lành"... bây giờ phải có những câu khác, ở hiền đôi khi vẫn gặp ác như thường. Không nên dạy cho lớp trẻ về một xã hội ảo tưởng, mà nên phản ánh đúng thực tế của nó.

Thêm nữa, giới trẻ luôn tích tụ khối năng lượng lớn, làm sao để hướng cho họ sử dụng tốt nguồn năng lượng này. Ngay đằng sau những cuộc đập phá mà nhiều người lên án là một cảm giác muốn tự khẳng định. Mà xã hội chúng ta chưa chỉ cho họ con đường chân chính để làm việc này. Điều kiện để họ phát triển - trước tiên là một nền giáo dục hiện đại mang tinh thần nhân bản - thì lại càng chưa có.

Điều quan trọng nhất là cho họ thấy mọi nỗ lực chính đáng của họ sẽ được khẳng định. Nếu chỗ nào họ cũng cảm thấy bí, bị chặn lại... bởi những điều tiêu cực giới hạn như trong chuyện học hành, công việc... thì họ sẽ dễ nản. Trong xã hội, vẫn đầy rẫy nạn tham nhũng, vẫn đánh giá nhau về kinh nghiệm, sống lâu lên lão làng... điều này cũng làm sự vận động xã hội nói chung chậm lại.

- Cùng với sự phát triển xã hội và hội nhập, liệu những quy tắc xã hội đã chạy theo kịp sự vận động của thời đại?

- Lep Landao, nhà vật lý nổi tiếng có nói: "Thời đại của chúng ta là thời đại của những nghịch lý". Trong hoàn cảnh mọi sự đều thay đổi như vậy, không thể giữ mãi một kiểu nghĩ cũ.

Theo tôi, thời đại mới bây giờ đòi hỏi tất cả phải minh bạch hơn bao giờ hết. Nay là lúc mọi chuyện tốt xấu nên công khai ra, công nhận nó, chứ đừng đẩy nó vào bóng tối, lại làm phát triển ngầm hơn.

Tôi ví dụ, ở một số nước, người ta cho phép hoạt động mại dâm công khai miễn là có quản lý chặt chẽ. Còn ở ta, cho rằng mại dâm là trái với thuần phong mỹ tục, với quan niệm truyền thống phương Đông nên ta chỉ có cấm. Nhưng ai cũng thấy chỉ cấm được trên danh nghĩa, còn trong thực tế lại để lan tràn.

Hiện tại chúng ta vẫn duy trì nhiều sự quá khắt khe, mà tiếc thay, cái khắt khe ấy chỉ ở trên bề nổi, trong thực tế của chúng ta vẫn đầy rẫy những chuyện ấy. Đấy là một biểu hiện của sự giả dối.

Trong mắt tôi, vụ NSƯT Lê Vân thẳng thắn nhìn nói lên những gì chưa được trong gia đình là một tín hiệu tốt. Tất nhiên, chẳng có gì là trọn vẹn cả, được cái này hỏng cái khác. Người Việt hay thích tròn trịa, mà chính vì sự tròn trịa này nó làm ta bớt sắc đi.

- Sự phát triển kinh tế, xã hội luôn phải đối mặt với sự thay đổi các giá trị văn hoá. Theo ông thì làm gì để điều tiết cân bằng hiện tượng này, để giới trẻ dễ đi giữa 2 làn đường này?

- Trong văn hóa học, giá trị có 2 dạng. Các giá trị nhân bản thì thời nào cũng có, như sự tôn trọng xã hội, sống lương thiện, tự do... Lại có những giá trị chỉ thích hợp với từng thời đại Một số bài học truyền thống ta đang giáo dục cho lớp trẻ như phải biết vâng lời hoặc “tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại”... giờ không thích hợp nữa.

Lớp trẻ cần tự hình thành một hệ thống giá trị mới

- Ông đánh giá cao điều gì nhất ở lớp người trẻ?

- Thứ nhất là khả năng dám nghĩ khác và thứ hai là sự thẳng thắn.

Tôi nhớ mãi câu nói của một thanh niên. Ta hay khuyên họ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Nhưng cậu "lý luận", đó là quan hệ bình đẳng chứ không phải mang ơn, hệ luỵ: "nhờ tôi mua quả bà trồng cây mới sống được". Cảm giác biết ơn là một giá trị truyền thống. Tôn trọng lao động của nhau, mỗi người có một giá trị đóng góp là một giá trị hiện đại, hợp thời.

Trong cách nghĩ ấy, rõ ràng là đã thấy một lớp người khác.

Trong phẩm chất của các bạn trẻ, tôi cũng đề cao khả năng có những khoảng đơn độc với chính mình. Người Việt Nam thường rất sợ sống một mình. Việc ít đọc sách, ít nghiên cứu cũng là một biểu hiện. Điều này thể hiện tính bầy đàn cao. Muốn có trí tuệ thì phải dám đơn độc.

- Hiện tại, xã hội Việt Nam đã phát triển nhiều so với trước, nhưng một cách thẳng thắn, chúng ta vẫn ở vị trí rất khiêm tốn, bị thế giới bỏ xa khá lớn. Theo ông thì có hướng nào để nhanh thu hẹp khoảng cách này không?

- Có những người chủ trương như đi tắt, đón đầu. Tôi không ủng hộ. Chúng ta cũng phải xác định thẳng với người dân là cố gắng mấy cũng không bao giờ đón đầu được. Cái chính là phải cố đi cho nhanh. Đi tắt thì sau này lại phải trả giá thôi.

Chúng ta đang phát triển nóng quá. Nếu cả xã hội sống tỉnh táo, bình tĩnh, tự nhận thức chính xác về mình, làm gì đó theo đúng chuẩn mực, thì bằng những bước đi chắc chắn như thế, chúng ta sẽ giúp cho lớp trẻ một cơ hội thuận lợi.

- Gác qua những điều kiện hỗ trợ của xã hội, vậy thì bản thân giới trẻ phải đáp ứng những yêu cầu gì để có thể thực hiện nhiệm vụ thời đại của mình?

- Thời đại đòi hỏi ở lớp trẻ một trí tuệ cao lắm. Lớp trẻ hiện tại cũng đang thiếu một khát vọng lớn lao, thiếu sự nghĩ rằng, mình phải ngang hàng với các dân tộc trên thế giới.

Tôi nghe kể một câu chuyện đàm đạo về giấc mơ. Người Việt bảo, mơ có một cái honda, ô tô. Người Nhật bảo: Tôi có ước mơ là thực hiện được ước mơ của bạn. Chuyện phiếm thôi, nhưng nó phản ánh tâm lý nhược tiểu của dân tộc mình.

Chúng ta phải có một cuộc tự vấn rộng lớn, xã hội đặt câu hỏi với chính mình. Nghĩ rằng, mọi vấn đề đều có thể có cách làm khác.

- Sự tự vấn ấy được thực hiện dưới hình thức nào?

- Chúng ta nên có nhiều những cuộc đối thoại với lớp trẻ. Từ chuyện của Lê Vân, tôi thấy cần có sự đối thoại thường xuyên giữa lớp trẻ - già. Đặt mình vào địa vị của nhau, lớp già thì nên biết điều hơn, đừng dạy dỗ nhiều, lớp trẻ nên thông cảm hơn, hiểu những khó khăn ngày hôm qua...

- Cuối cùng, ông đặt niềm tin vào giới trẻ chứ?

- Hồi ở Văn nghệ quân đội, ông Nguyễn Khải hay bảo tôi, nói chuyện với lớp trẻ là khó nhất, nhưng chinh phục được "hội nó" lại là thú vị nhất. Khi trưởng thành lên, tôi cũng thấy thế. Trong những cuộc đối thoại, được giới trẻ khen tôi cảm thấy yên tâm, không chừng mình còn sống được với tương lai.

Tôi đang viết đều chuyên mục "Thói hư tật xấu người Việt" trên báo Thể thao - Văn hoá. Tòa soạn bảo chính độc giả trẻ lại quan tâm hơn, điều đó động viên tôi rất nhiều.

Tôi nhớ, lúc tôi mới vào nghề, người phụ trách trực tiếp tôi là nhà văn Nhị Ca luôn bảo: "Nhất định các cậu phải làm được hơn chúng mình". Câu ấy không làm cho tôi kiêu căng, mà giúp mình phải cố lên để đạt được kỳ vọng. Ngày nay tôi cũng thường nói thầm như thế với các bạn trẻ xa gần.

Tôi muốn nói rằng, các bạn trẻ cứ yên tâm. Xã hội ta chưa phải là ưu việt, nhưng luôn đón chờ những tài năng trẻ.

Tuy nhiên, hiện giờ vẫn chưa hình thành được hệ thống giá trị mới. Lớp trẻ cần tự hình thành cho mình, trong sự tác động của xã hội.

- Cảm ơn ông.

Nguồn: Vietnam Net