Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

21 tháng 5 2024

Nhìn từ văn hóa - giáo dục mà ra (!)

Thứ Ba, 05/21/2024 - 04:37 — Nam Gia

Báo Tuổi Trẻ ra ngày 16 tháng Năm 2024 đưa tin: "Giáo viên chủ nhiệm lớp 12A1 Trường THPT Nguyễn Thị Diệu, TP.HCM đã cho 6 học sinh đánh bạn ngay trong lớp vì đi học muộn"[1].

Trước đó không lâu, tháng Tám năm 2023, Sở Giáo dục - Đào tạo Tp.HCM phối hợp cùng Công đoàn Tp.HCM tổ chức hội thảo "Xây dựng trường hạnh phúc", với nhiều thầy và cô, từ đại học cho đến phổ thông trung học - cả trong và ngoài công lập - tham gia buổi hội thảo. Mục tiêu đặt ra "an toàn - lắng nghe - đoàn kết - yêu thương" cho cả trò và thầy [2], được dựa trên 21 tiêu chí "Trường hạnh phúc" theo tiêu chuẩn của UNESCO [3]. Đến tháng Mười năm 2023, Sở Giáo dục - Đào tạo đã ban hành chánh thức "Bộ Tiêu chí Trường học hạnh phúc và Kế hoạch thực hiện Trường học hạnh phúc" [4] với đại diện từ Bộ Giáo dục - Đào tạo, do Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc tham dự, cùng Công đoàn Giáo dục Việt Nam và nhiều ban ngành trung ương khác.

Một phụ huynh có con bị đánh tại trường THPT Nguyễn Thị Diệu, với giọng nghẹn ngào cho báo Tuổi Trẻ biết: "Tôi nghe con tôi kể mà không thể kiềm chế được sự tức giận. TP.HCM đang xây dựng trường học hạnh phúc mà tại sao giáo viên của một trường ở ngay trung tâm quận 3 lại hành xử phản sư phạm như thế. Chính giáo viên lại đi xúi giục học sinh thực hiện các hành vi bạo lực học đường. Như vậy thì làm sao phòng chống được bạo lực học đường?". Ngày 17 tháng Năm năm 2024, báo Thanh Niên cho biết: Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Thị Diệu quyết định tạm đình chỉ công tác giảng dạy nhằm để kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cô giáo nói trên [5].

Trước khi có chuyện cô giáo "dạy học trò đánh học trò", người dân vẫn không quên chuyện "học trò cùng nhau dạy hội đồng cô giáo". Chuyện xảy ra vào cuối năm ngoái, như báo Công An Nhân Dân tường thuật [6]: Sự việc diễn ra tại trường THCS Văn Phú thuộc tỉnh Tuyên Quang. Vào lúc khoảng 10h30 ngày 29 tháng Mười Một năm 2023, cô giáo Phan Thị H (38 tuổi) - giáo viên bộ môn âm nhạc - vừa hết tiết học thì bị một số học sinh lớp 7C và 6A bao vây và có lời nói cùng hành vi chửi bới, khiêu khích cô giáo H. Sau đó, có học sinh còn dùng dép chọi vào mặt, khiến cô giáo té xỉu. Cuối cùng, vị hiệu trưởng của trường THCS Văn Phú bị luân chuyển, còn cô giáo H. nhận kỷ luật cảnh cáo, từ chỉ đạo (tuốt luốt trên) Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang [7], vào ngày 3 tháng Giêng năm 2024.

Cùng với hai vụ việc kể trên, tuy trái ngược về nội dung cụ thể và vô số trường hợp học trò ẩu đả - cả đánh hội đồng và đánh tay đôi dữ dội nhưng chúng đều cùng chung một ý nghĩa: Hiệu trưởng - Giáo viên và học sinh không còn coi nhà trường là nơi để dạy và học với tiêu chí "Trường hạnh phúc" theo tiêu chuẩn UNESCO. Thay vào đó, học đường trở thành nơi để giải tỏa tâm trạng bực bội, hiềm khích; nuôi dưỡng sự căm hận và tư tưởng trả đũa sòng phẳng, dù giữa hiệu trưởng với thầy cô hay thầy cô với thầy cô hoặc học trò với thầy cô, dĩ nhiên bao gồm luôn học trò với học trò.

Mặc cho biết bao nhiêu lời than vãn, đi kèm tâm trạng bất an của hàng triệu phụ huynh, diễn ra trong nhiều năm qua, cùng những chỉ đạo và kỷ luật từ cơ quan hữu trách nhưng chuyện "thượng cẳng tay hạ cẳng chân" ầm ĩ và thậm chí án mạng đã xảy ra từ đó nhưng thảm nạn này vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Nhiều người cố gắng lý giải và đi tìm giải pháp, để học đường trở về đúng với vị trí xứng đáng của nó. Nhiều phụ huynh đã đề ra giải pháp: lắng nghe - đoàn kết - tôn sư trọng đạo - tăng lương giáo viên - kiên quyết loại bỏ những giáo viên không đủ phẩm chất và đạo đức - nghiêm khắc nhưng vị tha với học sinh v.v... như báo Tuổi Trẻ ra ngày 17 tháng Năm 2024 đưa tin [8].

Hầu hết người đời hiện nay đều dùng chữ "bạo lực học đường" - nghe trang trọng và văn minh, theo xu hướng thời đại. Tuy nhiên, chữ "đánh lộn", "đánh hội đồng", "mất dạy" - vốn là những từ ngữ rất thông dụng và bình thường trước 1975 - vẫn thích hợp và vẫn bảo đảm phản ánh đúng tình trạng hỗn loạn trong học đường ngày nay.

Tại sao gần nửa thế kỷ trôi qua, dưới sự lãnh đạo toàn diện và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn luôn luôn dẫn dắt toàn dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà người Việt Nam - từ già đến trẻ; từ trai đến gái; từ thầy cô đến học trò; từ quan chức cao cấp nhứt cho đến quan chức thấp cấp nhứt ngày càng trở nên bệ rạc về "dáng đứng Việt Nam" đến như vậy?!

Chính trường Việt Nam - nơi các đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam đầy trí tuệ - đang chứng kiến sự xáo trộn dữ dội tại thượng tầng kiến trúc, với "hai trụ" Vương Đình Huệ - Võ Văn Thưởng rời ghế trong lặng lẽ, cùng với "hai trụ mới" được "gắn vô" Trần Thanh Mẫn - Tô Lâm. Thông tin mới nhứt từ báo Tuổi Trẻ ra ngày 21 tháng Năm 2024: "Quốc hội sẽ tiến hành thủ tục miễn nhiệm bộ trưởng Bộ Công an với ông Tô Lâm, ứng cử viên được Trung ương giới thiệu bầu làm Chủ tịch nước tại kỳ họp này", mặc dù trước đó hai ngày báo giới loan tin: Tổng thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường cho biết trong chương trình kỳ họp thứ 7 chưa có nội dung phê chuẩn, miễn nhiệm chức danh bộ trưởng Bộ Công an. Cách hành xử với dân chúng như vậy, ngoài chữ "mất dạy", nên gọi là gì cho nhẹ nhàng mà tương xứng (?).

Thảm nạn đánh lộn - đánh hội đồng - mất dạy từ hành xử của giáo viên đến học trò hiện nay, phải chăng là hình ảnh phóng to từ thượng tầng chính trị, với vỏn vẹn 16 nhân vật trong tư cách "Ủy viên Bộ Chính trị" ?

Văn hóa là cội rễ. Giáo dục là dưỡng chất. Văn hóa xứ thiên đàng đã bị băm vụn, còn giáo dục toàn hóa chất độc hại.

[1] https://tuoitre.vn/tp-hcm-giao-vien-cho-6-hoc-sinh-danh-ban-ngay-trong-lop-20240516190612073.htm

[2] https://tuoitre.vn/xay-dung-truong-hoc-hanh-phuc-tai-tp-hcm-20230809125944914.htm

[3] https://thedeweyschools.edu.vn/tieu-chi-xay-dung-truong-hoc-hanh-phuc/

[4] https://hcm.edu.vn/tin-tuc-su-kien/hoi-nghi-trien-khai-bo-tieu-chi-truong-hoc-hanh-phuc-va-ke-hoach-thuc-hien-truo/ctmb/39808/72822

[5] https://thanhnien.vn/tam-dinh-chi-giao-vien-yeu-cau-6-hoc-sinh-danh-mot-hoc-sinh-vi-di-hoc-tre-185240517113143087.htm

[6] https://cand.com.vn/giao-duc/vu-co-giao-bi-hoc-sinh-quay-o-tuyen-quang-khong-co-viec-tro-nem-dep-danh-co-ngat-xiu-i716051/

[7] https://tuoitre.vn/vu-co-giao-bi-hoc-sinh-nhot-nem-dep-ky-luat-luan-chuyen-hieu-truong-20240103104054453.htm

[8] https://tuoitre.vn/giao-vien-cho-6-hoc-sinh-danh-ban-con-nhieu-cach-nhan...

13 tháng 5 2024

Sở VH-TT Hà Nội lập hội đồng duyệt trang phục cho show diễn của Đàm Vĩnh Hưng

 2024.05.13 - RFA


Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và trang phục với huy hiệu gây tranh cãi. FB Đàm Vĩnh Hưng

Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội đang làm văn bản xin ý kiến của Cục Nghệ thuật biểu diễn về liveshow của Đàm Vĩnh Hưng tại Hà Nội sau khi ca sĩ này vướng tranh cãi về trang phục tại buổi biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Lê Thị Ánh Mai – Phó Giám đốc Sở Văn Hóa Thể thao Hà Nội cho truyền thông hay trong ngày 13/5 rằng do lùm xùm về trang phục tại show diễn ở TPHCM do đó mặc dù Sở đã cấp phép cho liveshow của ca sĩ này tại Hà Nội trong ngày 18/5, nhưng giờ Sở phải lập thêm hội đồng để duyệt trang phục.

Bà mai cũng xác nhận liveshow của Đàm Vĩnh Hưng tại Hà Nội về cơ bản vẫn diễn ra bình thường, tuy nhiên Sở ngoài việc lập thêm hội đồng duyệt trang phục, còn lập hội đồng chuyên môn tổng duyệt chương trình trước khi liveshow chính thức diễn ra.

Liên quan “trang phục lạ” tại show diễn ở TP HCM, ông Lâm Ngô Hoàng Anh, chánh văn phòng Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM xác nhận, đã nhắc nhở ca sĩ này và đơn vị tổ chức (Công ty Tiếng hát Việt) trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm, nhận thức và chú ý đến trang phục tránh gây phản cảm và có tác động tiêu cực đến dư luận xã hội.

Hôm 5/5, một ngày sau khi Live Concert của Đàm Vĩnh Hưng diễn ra, trang Vietnam People's Navy có 20 ngàn người theo dõi (không có dấu tích xanh) đã đăng tải các tấm ảnh nam ca sĩ mặc trang phục có gắn nhiều huy hiệu trong buổi biểu diễn và cho rằng ông đã mang "cái "hồn ma" của bọn ngụy... có tên gọi là: Biệt Công Bội Tinh" trong đêm nhạc bolero.

Huy chương Biệt Công Bội Tinh Huy được trao tặng cho quân nhân nào có công với Nhà nước Việt Nam Cộng hòa và trao cho cả các quân nhân nước ngoài.

Hôm 6/5, trên trang Fanpage có 6,5 triệu người theo dõi, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng khẳng định, "Các huy hiệu đi kèm Hưng có chụp cận cho mọi người thấy đều là những phụ kiện bình thường mang tính chất trang trí fashion (thời trang-PV) để bộ trang phục thêm phần bắt mắt, hoàn toàn không có một ẩn ý về chính trị nào như các trang mạng đang dẫn dắt."

12 tháng 5 2024

HOUSE - HOME

9.5.2024 - Đỗ Trung Quân

DoTrungQuan-01-01

Mình ơi ! Ta gọi là nhà
Nhà ơi ! Ta gọi mình là nhà tôi ! “
( Bùi Giáng )
House và Home té ra khác nhau lắm !
“ Thôi về đi ! Nhà ai nấy về - tóc xanh mấy mùa …”
“ Nhà “ này lại là ẩn dụ khác
Chỉ nhắc “sẽ không lớn nổi thành người …” không phải thơ của hắn …

HOUSE - HOME
(Tác giả: kts. Lan Vo)

Có nhiều từ mà người Việt chúng ta khi nói, khi viết, thường dùng với khái niệm rất chung chung, ví dụ như từ “nhà”.

“Nhà”, hàm nghĩa rất rộng. Theo chức năng thì có: nhà ở, nhà ăn, nhà thương, nhà hát, nhà quốc hội, nhà vệ sinh, nhà thổ. Theo chức danh thì có: nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà phê bình. Theo hình thức thì: nhà biệt thự, nhà cao tầng, nhà tranh, nhà ngói, nhà lá. Theo đánh giá thì: nhà nghèo, nhà giàu. Ôi chao, vô số “nhà”, cơ man “nhà”, và, có một từ, gần như nghĩa của nó bao gồm tất cả: “nhà tôi”.

Trong khuôn khổ tản mạn này, người viết chỉ muốn nói một chút chơi, về khái niệm gần gũi và thiết thân nhất của từ “nhà” theo tiếng Anh “house - home”.

Người Mỹ có câu rất hay để phân biệt house và home: your house is nice, but I want to go home (nhà anh thì đẹp đấy, nhưng tôi chỉ muốn về nhà mình).

Đến đây, lại sực nhớ câu mà các lãng tử thường nghêu ngao: giang hồ ta chỉ giang hồ vặt / nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà (Giang Hồ - Phạm Hữu Quang).

Nhưng than ôi, thời buổi bây giờ, nấu cơm bằng nồi cơm điện thì làm sao mà nghe được tiếng cơm sôi. Muốn nghe được cái âm thanh reo vui ấy, chỉ có thể là từ mép của chiếc nồi gang, đặt trên bếp cà ràng ông táo, củi cháy phừng phừng đút phía dưới.

Muốn nghe được âm thanh reo vui ấy, chỉ có thể là từ nơi mà bà mụ bắc ấm nước đỡ đẻ cho mẹ ta. Từ nơi mà nước trong ấm ấy, được lấy từ cái giếng sau hè, do ông nội ta đào để uống, để tưới hàng cau của bà nội, trồng hai bên lối vào nhà.

Rồi thì cái bộ phản ăn cơm từng là nơi ta nằm ăn đòn, vì ham chơi trốn học, là do công của bố và chú ta xẻ trên rừng kéo về, cả mấy cây cột, cây kèo cũng thế. Cho nên ở đó, ở nơi mà từng tấc vuông sống, đều ngập hơi ấm bàn tay của những người thân thuộc, chắt chiu dựng xây, không chỉ ngôi nhà, mà còn se chỉ để thắt, bện những sợi dây vô hình, nối kết con người và lịch sử, nối kết quá khứ vào hiện tại. Bởi thế, hỏi sao mà, ta chỉ muốn về nhà mình thôi.

******

Có một đôi, tuổi đã sồn sồn sắp lấy nhau, cần khẩn cấp một tổ uyên ương đến gặp tôi, nhờ vẽ giúp nhà. Tôi bảo, ông bà cần gì, thích gì, nói hết ra xem. Chàng từ tốn trình ra bảy, tám, ý thích, yêu cầu. Còn nàng, tất nhiên là gấp đôi.

Trước gần hai mươi cái gạch đầu dòng, tôi phân tích cho họ hiểu là chúng đá nhau loạn xạ, nên, muốn có cái này, phải bỏ qua cái kia. Chưa dứt lời, thì giữa chàng và nàng, đã xảy ra một trận võ mồm chí chóe, ỏm tỏi. Ai cũng cho ý của mình là đúng, dứt khoát phán theo kiểu hạ thủ bất quờn, để rồi tiếp theo, cả hai hầm hầm phủi đít ra về quên cả chào kiến trúc sư.

Cái hợp đồng góp gạo nấu cơm chung ấy, xem ra vẫn còn vô số điều khoản, mang màu sắc cá nhân, chưa thỏa thuận được. Nghĩa là, còn lâu, kiến trúc sư cứ việc ngồi đó mà hóng tiếp nhé.

Giới trẻ "hiện đại" bây giờ, nhìn về về cái home tương lai của mình theo tiêu chí 3C: condo - car - credit card. Nơi hẹn hò giờ đây, không phải là cây rơm còn thơm mùi lúa mới, hay bóng tre bên bờ ao, hay giậu mồng tơi xanh rờn như cha thơ sĩ nhà quê nhát cáy nào đó mô tả. Chỉ cần bấm một cái tin nhắn tới một địa chỉ năm chục một giờ, bảy chục hai giờ nhan nhản ngoài phố, cho nó nhanh. Cuộc đời chỉ là những việc cần giải quyết thế thôi, chẳng gì phải lăn tăn.

Người Pháp có câu: mỗi ngôi nhà là một ước mơ. Đúng thế, khi vào tuổi trưởng thành, ai cũng từng có một giấc mơ, mơ về một “ngôi nhà và những đứa trẻ”, nhưng đôi khi lại quên rằng, để biến những giấc mơ ấy thành hiện thực thì phải tự làm lấy là chính.

Về những đứa trẻ thì không ai dạy, cũng làm rất hăng. Riêng ngôi nhà thì có khi lại trao giấc mơ của mình vào tay người khác, các kiến trúc sư. Mà các kiến trúc sư, tài giỏi mấy, cũng chỉ thiết kế ra được những cái house để ở chứ làm sao mà vẽ ra được cái home?

Và các bạn cũng nên biết thêm, rằng có đến 80% các kiến trúc sư đều trở nên bối rối, khi phải tự thiết kế và xây dựng ngôi nhà cho chính mình (20% còn lại thì chưa đủ tiền để xây nhà). Nên, nếu có ai thắc mắc với các kiến trúc sư, vậy chứ khi xây nhà cho mình, chắc các ngài có nhiều ý tưởng hay ho mới lạ lắm, phải không? Thì phần lớn sẽ được nghe trả lời: Ối giời, ý tưởng cái mẹ gì, làm nhanh để có chỗ ở và làm việc, bả thích gì thì cứ theo đó mà làm cho nó yên chuyện.

Thời nay người ta đi mua căn hộ tái định cư, cao cấp, đẳng cấp gì gì đó, với quan tâm hàng đầu là, nếu có sự cố thì tôi thoát ra bằng đường nào. Nỗi lo này là thực tế, thực tế như là, có dễ bán, có dễ cho thuê không.

Cứ thế, chưa vào đã tính thoát ra, chưa ở đã tính bán đi. Cho thấy, đơn giản, đó chỉ là một cái house hay apartment tạm trú qua ngày. Lên voi người ta xây lâu đài biệt phủ. Xuống chó, thì bị nhét vào cái hốc nhỏ trong căn nhà to, mà nghiền ngẫm cái sự đời. Cái sự đời hướng người ta chúi mũi vào chiếc Lexus mà quên mất cây Ô Liu. Và như thế, kết quả cuối cùng không mấy khó để đoán ra.

Chiếc Lexus và cây Ô Liu, luôn là bài toán và vấn đề khó giải. Khó, nhưng không phải là không thể.

******

Từ xa nhìn thấp thoáng thấy chiếc cổng làng, cảm tưởng dường như mình đã về đến nhà. Dường như đã về đến nhà, vì nơi đó, tôi sẽ gặp những người quen biết, thân thương; vì nơi đó, tôi có thể lang thang đêm ngày mà không e ngại bất cứ điều gì; vì nơi đó, tôi có thể trút bỏ lại sau lưng, tất cả những phiền toái lo toan, đa đoan vướng bận, sách nhiễu nhì nhằng, mệt mỏi ám ảnh. Cái nơi mà, khái niệm về quê hay về nhà là một khái niệm không thể tách rời.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ ecological (sinh thái, chất lượng của môi trường) được xuất phát từ chữ Hy Lạp: oikos (ngôi nhà), cho nên, không chỉ “quê tôi, ai cũng có một dòng sông bên nhà”, mà còn là, quê tôi, nơi cho tôi một tình yêu để quay về.

Hỏi rằng người ở quê đâu,
Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà
(Chào Nguyên Xuân - Bùi Giáng)

Alexandre Yersin đến Nha Trang từ cái thời, nơi đây còn là một vùng biển hoang sơ. Ông sống, làm việc rồi một thân một mình chết ở xứ sở xa xôi này. Ông có “gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người” như trong mấy câu vọng cổ ai oán hay ngân nga không nhỉ? Không, ông đã sống và mất đi trong cái home chung thân thiết của cả một miền quê, của cả nhân loại. Cái home ông tự tạo dựng bằng tấm lòng nhân ái cao cả của mình. Một cái home thật sự, không nhất thiết phải có “ngôi nhà và những đứa trẻ”, mà nó là một không gian rộng lớn, một homeland, quê nhà thân thương và quyến luyến.

******

Đêm nhớ về Sài Gòn, bóng mẹ hiền mờ mờ bên sông, mắt người tình một trời mênh mông (Đêm Nhớ Về Sài Gòn - Trầm Tử Thiêng). Nhớ về, nhớ về Sài Gòn, giờ đây chính là nhớ về mẹ; giờ đây, chính là nhớ về bạn bè, chính là nhớ ánh mắt người tình. Còn đâu một Sài Gòn - homeland (quê nhà, nơi ta sinh ra và lớn lên)? Nếu có còn chăng, chỉ là một quê nhà như chiếc vỏ rỗng màu mè, chứa những tàn phai, để ai kia, vội vã trở về, rồi lại vội vã ra đi.

Nhưng vẫn phải nhớ về, cái nỗi nhớ cứ canh cánh trong lòng, bởi lơ mơ “sẽ không lớn nổi thành người” (bị dọa thế mà).

Ôi, giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xa.

Tội nghiệp thằng bé!

10 tháng 5 2024

Hưng đá giò lái chưa đúng lúc

Thứ Tư, 05/08/2024 - 11:34 — VietTuSaiGon

Cho đến lúc này, tôi quan sát thấy chưa có ca sĩ nào lại dùng võ, đặc biệt dùng đòn nghịch lân (còn gọi là đá giò lái) giỏi như Đàm Vĩnh Hưng. Nói khác đi, Hưng là một nghệ sĩ biết tận dụng thời cơ chính trị thuộc vào dạng thượng thừa, bậc thầy. Nhưng có vẻ như lần này, Hưng đá giò lái hơi sớm và không có lợi cho anh mấy.

Nói Hưng đá giò lái thượng thừa vì xuất thân là chàng ca sĩ hạng áp chót, chuyên hát thay chỗ, những năm 1990, lúc đó Lam Trường nổi đình nổi đám với Tình thôi xót xa, Hoa tím ngày xưa... thì Mr Đàm lọt tọt đi theo sau, ngồi ở cánh gà sân khấu, cầu trời sao bạn Lam của mình đi muộn, kẹt xe, cấn sô để hát lấp, có hát thì có tiền mà bỏ bụng.

Thế rồi cái thời của Lam Trường, thời của Làn sóng xanh qua mau, lúc này, mọi thứ trở nên nhàn nhạt, người ta tìm một cái gì đó nghe cho sâu hơn. Quang Dũng nổi lên nhưng chưa tới, để tìm một “cái gì đó” vô cùng khó, vậy là Mr Đàm mở ngay cước pháp giò lái, thay vì đi hát lấp hay hát phòng trà, anh làm một CD riêng và chấp nhận tặng cho mọi người, thậm chí mang đi tặng giống như nhân viên tiếp thị đi phát tờ rơi quảng cáo vậy.

Kết quả vượt ngoài mong muốn, cú đá giò lái của Hưng quá đẹp, người ta bắt gặp một CD mà người trẻ nghe cũng có máu lửa tuổi trẻ, người già nghe cũng thấy có cái sâu của ca từ. Quyết định làm cover lại toàn bộ các ca khúc trữ tình trước 1975 bằng chất giọng và khúc thức, giai điệu mới của Hưng nhanh chóng đẩy Hưng lên vị trí hàng đầu.

Vấn đề tên tuổi coi như tạm giải quyết xong, tiếp theo là đá giò lái chính trị, bởi tại Việt Nam, một nghệ sĩ mà không có các va chạm chính trị thì cứ nhàn nhạt, chán lắm, còn va chạm quá thì lại hỏng. Vậy là Hưng làm một tour diễn ra nước ngoài, ở đây, Hưng nhắm tới Mỹ, vì ở Mỹ có cơ hội đá giò lái tốt nhất, không đụng bên này thì cũng đụng bên kia, chí ít là có đụng, đụng mới vang.

Không rõ lúc đó Hưng đã có thẻ xanh chưa, nhưng khả năng có là rất cao, và không chừng, nếu thị phần béo bở, thị trường rộng mở thì phát biểu vài câu gì đó “tạo ấn tượng”, coi như trở thành công dân Mỹ như một số đàn anh, đàn chị từng làm, tị nạn chính trị... Nếu thị trường không béo bở thì lại tính theo chiêu thức khác.

Lần đi đó của Hưng, không biết Lý Tống do vô tình hay hữu ý lại lọt vào đòn giò lái của Hưng, Lý Tống xịt một phát hơi cay vào Hưng, anh lảo đảo trên sân khấu, sau đó tuyên bố trướng truyền thông “Lý Tống, anh nợ tôi 1 - 0!”. Phải nói là quá ngầu, có thể không ngầu trong cộng đồng người Việt hải ngoại, thậm chí vớ vẩn, nhưng lại rất ngầu với anh em dư luận viên trong nước, nhưng vẫn chưa đủ ếp-phê.

Năm 2012, Hưng bồi tiếp một cú bằng cách len lỏi, thậm chí lăn lóc để vào viếng đám tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội. Hình ảnh của Hưng mang lại cho anh ta một số điểm quá lớn, đủ để hoạt động ca hát thỏa thích trong nước dưới sự che chở của nhiều thứ và bên cạnh sự ủng hộ của anh em dư luận viên (sau này gộp thành AK47). Nắm được lực lượng này trong tay, được họ ủng hộ, thì lượng vé của giới thanh niên đoàn, tức đoàn viên thanh niên CSHCM có thể nói là đếm không xuể, đếm mòn cả chỉ tay.

Vậy là từ bấy tới nay, sự nghiệp ca hát của Hưng một bước lên mây, cái danh “ông hoàng nhạc Việt” cũng chưa đủ, Hưng còn mong làm cả mặt trời. Mà mong làm mặt trời là bị lố, đá như vậy quá hở sườn, Hưng quên rằng với anh em AK47, chỉ có một mặt trời duy nhứt, đang nằm trong lăng Ba Đình thôi. Hố cú này nghe có vẻ đơn giản nhưng bị ném đá tơi tả, mà bị chính người anh em AK47 ném nữa thì xem như độ rủi ro rất cao.

Hơn nữa, tình hình chính trị rối ren, thêm phần chuyện chị Hằng, rồi chuyện nguy cơ mất trắng tài sản của một số nghệ sĩ vì có dính dự đến chính trị, dính đến các vụ kiện tụng và lợi ích nhóm trong thời gian sắp tới, chuyện này, chắc chắn Hưng phải là người biết rõ hơn ai hết, bởi Hưng thông minh và nhanh nhảu mà! Hơn nữa, vụ chị Hằng cùng các lùm xùm có dính đến Hưng vẫn chưa ra tấm ra mẻ gì. Giờ chỉ có đường vạch càng nhanh càng tốt, mà vạch đi đâu cho chắc ăn ngoài đi Mỹ?!

Nghiệt nỗi, giờ bà vợ, cũng là bầu sô của Hưng một thời bên Mỹ đã đệ đơn li dị Hưng, khán giả hải ngoại thì xem Hưng là thằng nằm vùng, dân văn công trá hình... Vậy thì đường nào cho Hưng sang Mỹ đây. Trong khi sống tại Việt Nam, rất khó cho Hưng ở quãng đường phía trước, bởi một khi khán giả bắt đầu quay lưng, thời vàng son khép lại, thì e rằng mọi thứ khó khăn có thể ập xuống bất kì giờ nào. Và muốn giữ cửa thì phải nuôi đàn em, trước có tiền này tiền nọ mới nuôi nổi chứ tới lúc hết thời, có bán cả gia tài cũng chả nuôi được bao lâu. Nếu không nuôi thì không yên, chơi với giang hồ đâu có dễ! Lâu nay Hưng lớn láo là nhờ giang hồ chống lưng cả đấy thôi!

Thì chơi tiếp một cú giò lái vậy, lần này đá ngược, cơ hội cũng rất cao bởi vì dân đấu tranh dân chủ dạo gần đây có vẻ tắt tiếng ca cũng nhiều, rồi thêm nhiều anh chị dân chủ lại ăn nói hớ hênh, có phần trả treo làm cho cộng đồng người Việt hải ngoại thất vọng, nếu không muốn nói là quá thất vọng về họ. Nói khác đi, lúc này, hình ảnh một “nhà” gì đó xuất hiện là hết sức hợp lý và thời cơ chín muồi. Hưng tung ngay đòn giò lái của mình.

Hưng chọn ngay kiểu thời trang mà chỉ cần xuất hiện trên sân khấu thì anh em AK47 sẽ nhảy cẩng lên vì bất ngờ, sau đó lồng lộn. Và, Hưng cũng chỉ mong chừng đó, vì anh em AK47 càng ném đá Hưng bao nhiêu thì càng đánh vào lòng trắc ẩn của cộng đồng người Việt hải ngoại bấy nhiêu. Hưng chỉ cần chừng đó, để lấy lại thị trường và thị phần trên đất Mỹ. Với tấm thẻ xanh có sẵn, Hưng bước sang Mỹ, một thời vàng son mới lại nổi lên và không chừng, lúc đó Hưng lại làm thơ rằng mình từng phản tư, từng ném đá vào cái mặt trời trong lăng bằng cách nói “tôi muốn làm mặt trời, vì mặt trời chỉ có một”, nghĩa là tao đá cái mặt trời trong lăng kia rồi mà bọn nó không hiểu.

Người ta nói rồi, lưỡi nó không có xương, mà cỡ hù dọa anh chị, hù dọa dao thớt một cách công khai, ra dáng anh chị giang hồ Hưng cũng dám làm thì không có thứ gì Hưng ngại qua mặt khán giả cả. Vì có hành vi ấy, người khác đã rớt đài lâu rồi, Hưng thì không, vẫn lên như diều gặp gió, thế mới biết tầm cỡ và nội lực lưỡi của Hưng cỡ nào!

Rất tiếc, lần này, hiệu ứng giò lái đã có, một số người ở hải ngoại, thậm chí từng ghét Hưng chuyển sang mến mộ anh trở lại. Nhưng con số ít ỏi, hơn nữa, cơ hội để vạch sang bên kia lần này lại rất thấp. Không còn thông thoáng như ngày xưa. Lần này Hưng đá giò lái quá thành công nhưng lại đá sớm, không dính mặt đối thủ mà dính mặt trọng tài, nguy cơ bị rút thẻ đỏ rất cao. Đợi rồi xem!

08 tháng 5 2024

Bộ Văn hóa thanh tra “huy hiệu lạ” mà Đàm Vĩnh Hưng đeo khi biểu diễn

2024.05.07 - RFA


Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và trang phục với huy hiệu gây tranh cãi. FB Đàm Vĩnh Hưng

Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch (VH-TT-DL) Việt Nam đã có ý kiến chỉ đạo làm rõ huy hiệu” bị cho là “lạ”, giống dạng huy hiệu thời Việt Nam Cộng Hòa, mà ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đeo tại chương trình biểu diễn hôm tối 4 tháng 5 vừa qua ở thành phố Hồ Chí Minh.

Truyền thông Nhà nước ngày 7 tháng 5 loan tin dẫn ý kiến chỉ đạo của Bộ VH-TT-DL đối với Sở VH-TT-DL TP HCM, địa phương cấp phép cho chương trình của Đàm Vĩnh Hưng như vừa nêu.

Như tin đã loan, sau đêm biểu diễn live-concert chủ đề “Ngày em thắp sao trời” dài chừng 4 tiếng với khoảng 62 bản “mash-up” do Đàm Vĩnh Hưng trình bày, trên mạng xã hội xảy ra cuộc tranh cãi về một trong những bộ trang phục mà ca sĩ này mặc. Đặc biệt là một thiết kế giống với loại huy chương của Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975.

Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng sau đó đã lên tiếng trên trang cá nhân cho rằng "Các huy hiệu đi kèm Hưng có chụp cận cho mọi người thấy đều là những phụ kiện bình thường mang tính chất trang trí fashion (thời trang-PV) để bộ trang phục thêm phần bắt mắt, hoàn toàn không có một ẩn ý về chính trị nào như các trang mạng đang dẫn dắt."

Ông cũng tiết lộ bộ trang phục ông mặc lúc biểu diễn là do "Tuấn Trần đã thiết kế riêng" và lấy cảm hứng từ bộ trang phục trên sàn diễn thời trang runway của quốc tế mà ca sĩ này rất thích.

Đàm Vĩnh Hưng cũng khẳng định "sẽ quyết định không sử dụng trang phục này tại show diễn ở Hà Nội sắp tới để tránh xảy ra những hiểu lầm” và "các thành phần xấu lợi dụng đẩy câu chuyện đi xa."

Hôm 5/5, trang Vietnam People's Navy có 20 ngàn người theo dõi (không có dấu tích xanh) đăng tải các tấm ảnh trong buổi biểu diễn của ca sĩ họ Đàm và cho rằng ông đã mang "cái "hồn ma" của bọn ngụy... có tên gọi là: Biệt Công Bội Tinh" trong đêm nhạc bolero.

Huy chương Biệt Công Bội Tinh Huy được trao tặng cho quân nhân nào có công với Nhà nước Việt Nam Cộng hòa và trao cho cả các quân nhân nước ngoài.

Theo tấm ảnh ca sĩ này chụp cận cảnh và đăng lên trang cá nhân, "huy chương" ca sĩ này cài áo có dòng chữ "HIGH QUALITY GARMENT" theo Đàm Vĩnh Hưng giải thích nghĩa là "CHẤT LƯỢNG CAO CỦA NGÀNH MAY MẶC", nó không giống gì với huy chương thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đàm Vĩnh Hưng gây bão vì ‘đeo huy hiệu giống Việt Nam Cộng hòa’

08/05/2024 - VOA

VOA-06-10
Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng trong trang phục trình diễn gây tranh cãi trong đêm liveshow tối 4/5

Đàm Vĩnh Hưng, ca sỹ từng dính vào nhiều lùm xùm, một lần nữa gây bão dư luận khi bị tố cáo đeo những huy hiệu giống như thời Việt Nam Cộng hòa trong một buổi trình diễn – sự việc khiến giới chức Việt Nam phải vào cuộc điều tra.

Cụ thể, trong liveshow ‘Ngày em thắp sao trời’ diễn ra vào tối ngày 4/5 tại thành phố Hồ Chí Minh, Đàm Vĩnh Hưng đã mặc bộ trang phục vét màu ghi sáng nhiều túi trông giống như sỹ quan. Đặc biệt hai bên ngực áo có đeo nhiều huy hiệu không rõ là huy hiệu gì.

Tuy nhiên, khi hình ảnh này lan truyền trên mạng xã hội, đã có ý kiến cho rằng các huy hiệu này trông giống như ‘Biệt công bội tinh’ – một loại huy chương của Việt Nam Cộng hòa được sử dụng từ những năm 1950 đến 1974 để vinh danh những quân nhân có công trạng trong chiến tranh Việt Nam.

Một huy hiệu có dòng chữ ‘Marine Semper fi’, trong tiếng Latin có nghĩa là ‘Luôn luôn trung thành’. Đây là khẩu hiệu của Thủy quân lục chiến Mỹ từ năm 1883.

Hiện giờ, những tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ việc trong ban tổ chức liveshow của Đàm Vĩnh Hưng đã bị Sở Văn hóa và Thể thao thành phố mời lên làm việc để làm rõ, tờ Tuổi Trẻ cho biết.

Tờ Thanh Niên dẫn lời ông Lê Thanh Liêm, chánh Thanh tra của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết Bộ đã làm việc với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố về vụ việc và kết quả truy cứu sẽ được Sở báo cáo lên Bộ.

Về phần mình, ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng hôm 6/5 đã lên trang fanpage của mình để giãi bày rằng các huy hiệu này ‘hoàn toàn không có một ẩn ý về chính trị nào như các trang mạng đang dẫn dắt’.

Ca sỹ này giải thích rằng các huy hiệu mà ông đeo ‘chỉ là những phụ kiện bình thường mang tính chất trang trí để bộ trang phục thêm phần bắt mắt’. Ông cũng đăng hình chụp cận cảnh các huy hiệu để rộng đường dư luận.

Ông cho rằng ông rất hâm mộ phong cách thời trang này mà ông cho là thể hiện ‘kiểu cá tính mạnh mẽ’. “Mọi nguời để ý kỹ sẽ thấy liveshow nào của Hưng cũng luôn có những bộ na ná như thế này dù là nhạc trẻ hay nhạc xưa,” ông viết trên fanpage.

Ca sỹ này kêu gọi các fan hâm mộ của ông ‘tránh bị dẫn dắt dẫn đến hiểu lầm’ và ‘bị các thành phần xấu lợi dụng đẩy câu chuyện đi xa’.

Mặc dù nói là trang phục này ‘không có gì’, ông Đàm Vĩnh Hưng cũng cho biết ông sẽ không mặc lại nó trong đêm liveshow tại Hà Nội sắp tới.

Dưới phần bình luận, người hâm mộ của ca sỹ này cũng có ý kiến trái chiều về các huy hiệu.

“Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng hay mặc kiểu trang phục như thế này từ lâu rồi và một số thành phần cố tình đưa thông tin sai lệch thôi. Những người nghe nhạc chân chính sẽ đủ tỉnh táo để phân biệt đúng sai,” một người ghi tên là Map Map Kien bình luận.

Một người khác có tên là Nhiệt Huyết ghi: “Anh thử một lần mặc trang phục của quân đội Việt Nam sẽ được yêu mến nhiều hơn nữa đấy.”

Tuy nhiên, cũng có những ý kiến chỉ trích Đàm Vĩnh Hưng gay gắt. “Thấy có clip anh rất tự hào khi có quốc tịch Mỹ. Anh nên về với nơi anh tự hào. Hát cho người dân bên đó nghe và để dân bên đó làm fan của anh,” Hà Hoàng bình luận.

Khán giả ký tên Anh Ba thì cho rằng Đàm Vĩnh Hưng ‘nên tìm hiểu cho kỹ những gì đeo lên người. “Tuy là những phụ kiện nhưng đừng đeo những thứ mô phỏng loại mà không phù hợp với Việt Nam hiện tại,” khán giả này viết.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, một nhà hoạt động dân chủ hiện đang tị nạn ở Mỹ, viết trên trang Facebook của mình rằng ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng ‘mặc một bộ đồ quân nhân không ra quân nhân, đồ lính cũng chẳng phải mà canh tù thời thực dân cũng chẳng ra canh tù, lủng lẳng đeo thêm dăm phụ kiện trang trí’.

“Vậy mà bên thắng cuộc lại hoảng hốt lo sợ đến cả huy động Bộ Văn hóa vào cuộc vì sợ rằng đó là huân chương Biệt công bội tinh,” bà Quỳnh chỉ trích.

Mặc dù nhiều lần sang Mỹ trình diễn phục vụ, ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng đã bị một bộ phận trong cộng đồng người Việt ở Mỹ tẩy chay và cáo buộc ông là ‘văn công của Việt Cộng’.

15 tháng 4 2024

Chiếc áo chính trị của tiếng Việt

15 tháng 4 2024, 08:56 +07 - BBC


Nguồn hình ảnh, Võ Ngọc Ánh
Học sinh học Việt ngữ cuối tuần

  • Võ Ngọc Ánh
  • Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Tacoma, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ
  • 15 tháng 4 2024, 08:56 +07

Niềm mong ước con cháu có thể nói, nghe và hiểu được tiếng Việt là mối quan tâm của đa số người Việt ở hải ngoại. Tuy nhiên, cũng có nhiều người Việt tại Mỹ lại không chấp nhận chữ Việt mà gần 100 triệu người trong nước hiện đang sử dụng hằng ngày.

Cuộc nội chiến Quốc gia – Cộng Sản đã kết thúc gần nửa thế kỷ, nhưng sự hơn thua trong việc sử dụng tiếng Việt vẫn chưa thể kết thúc.

Con tôi học tiếng Việt

Con tôi năm nay bảy tuổi, đang học lớp 1 trong hệ thống giáo dục ở Mỹ. Vào cuối tuần, tôi cho con đi học tiếng Việt. Mỗi buổi học hơn hai giờ. Bé theo học tiếng Việt đã được 2 năm.

Sách học tiếng Việt con tôi đang học là cuốn Chúng em học tiếng Việt, do Trung tâm Việt ngữ Văn Lang, ở San Jose, California xuất bản. Trong sách này, để dạy ráp vần, phụ âm với nguyên âm và dấu (thanh sắc), tôi thấy nhiều từ, chẳng hạn như phị, hẽ, dỉ, xõ… Đây là những từ vốn dĩ không có nghĩa trong tiếng Việt, không còn được sử dụng, hoặc xa lạ trong thực tế hiện nay.

Tôi nghĩ, với trẻ mới bắt đầu học tiếng Việt, chúng ta nên dạy các từ đơn giản, được sử dụng rộng rãi mới là điều quan trọng. Không nên dạy các cháu những từ vô nghĩa, hoặc những từ đã không còn nhiều người sử dụng.

Giáo viên sẽ trả lời học sinh thế nào khi các em thắc mắc: “What does it mean?” - Từ này có nghĩa là gì?

Một giáo viên dạy Việt ngữ tại Mỹ nhiều năm chia sẻ, có khi gặp những từ khó hiểu các em hỏi mình không biết, phải hẹn lần sau. Về tìm hiểu không thấy nghĩa, nên khi gặp lại phải giả lơ cho qua. Bởi thật không hay chút nào khi nói với các em, cô không hiểu, hoặc từ đó không có nghĩa.

Với kinh nghiệm dạy Việt ngữ tại hải ngoại hơn 45 năm qua, và cũng là giảng viên dạy tiếng Việt tại khoa Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á, tại Đại học California ở Los Angeles (UCLA), giáo sư Quyên Di cho rằng việc dạy tiếng Việt tại hải ngoại nên cập nhật từ vựng, tránh dùng từ không có nghĩa, hoặc từ hiện nay không còn mấy ai dùng.

Chữ đúng thì dùng

Cũng như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Việt luôn có sự thay đổi để thích nghi. Một số từ sẽ bị mai một và mất đi, nhưng nhiều từ mới xuất hiện và thay thế sao cho thích hợp với hoàn cảnh và cuộc sống hiện tại.

Từ điển của một ngôn ngữ sống luôn cần phải cập nhật, dù đó là từ điển của Oxford hay tiếng Việt.

Thế nhưng, một số sách dạy Việt ngữ ở hải ngoại áp dụng cuốn từ điển “Việt Nam Tự Điển” do hội Khai trí Tiến Đức xuất bản năm 1931 tại Hà Nội, không hề được cập nhật. Với lý do cho rằng, cuốn sách này chuẩn mực. Điều này e rằng có vẻ không nên.

Trong 100 năm qua chữ Quốc ngữ đầy biến động, từ loại chữ hạng hai, đến được thừa nhận là ngôn ngữ chính thức, cùng các yếu tố của lịch sử. Cuốn từ điển được in gần một thế kỷ trước, nên dùng để nghiên cứu, đối chiếu hơn là áp dụng để dạy cho người mới học tiếng Việt hiện nay.


Nguồn hình ảnh, Getty Images
Các em nhỏ gốc Việt trong một hoạt động tôn giáo tại Garden Grove, California vào năm 2023

Đơn cử, vì áp dụng cuốn từ điển trên nên sách dạy tiếng Việt có kiểu quy định y dài (y) và i ngắn (i) đa phần ngược với thực tế số đông đang sử dụng hiện nay. Cách viết phổ biến của tiếng Việt hiện nay là lợn ỉ, lý do, địa lý, một tỷ đô… Thế nhưng, trong sách dạy Việt ngữ mà một số trung tâm Việt ngữ ở hải ngoại biên soạn lại dạy viết lợn ỷ, lí do, địa lí, một tỉ đô…

Có quá nhiều ưu việt trong dùng ký tự Latin (chữ Quốc ngữ) để ghi âm tiếng Việt. Vì thế chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm và trở thành chữ viết chính thức của dân tộc. Nó trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, từ giáo dục, đến hành chính, báo chí và sáng tác.

Dù chưa thể đưa ra quy tắc nghiêm ngặt cho chữ y dài (y) và i ngắn (i), nhưng hiện nay trong sáng tác, trên báo chí tiếng Việt ở trong nước lẫn hải ngoại, người ta cơ bản đã đồng thuận được với nhau khi nào thì dùng y dài và khi nào thì dùng i ngắn.

Nói về vấn đề này, giáo sư Quyên Di phân tích, việc không thống nhất được về cách viết được I ngắn, Y dài có lịch sử từ những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ trước. Các nhà chuyên môn cũng cố gắng đưa ra quy tắc cho việc sử dụng Y dài, I ngắn khi nào, nhưng lại không thống nhất với nhau và hoàn toàn đúng để áp dụng như một công thức. Do đó, cần sử dụng cả quy tắc và thói quen dùng chữ I ngắn hay Y dài trong tiếng Việt. Để người Việt dù học tiếng Việt trong nước, hay ở hải ngoại dễ dàng hiểu nhau.

Người viết bài này thấy rằng, dạy tiếng Việt theo cách ở miền Nam trước đây, với nhiều từ khác biệt so với những từ đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến hiện nay, sẽ tạo ra những khó khăn không cần thiết cho con em ở hải ngoại khi chúng tiếp xúc với cách viết khác biệt trong sách vở và báo chí đang dùng. Điều này chỉ tạo ra sự rối rắm không đáng có, cản trở trong việc tiếp nhận và hiểu tiếng Việt, dẫn đến việc yêu mến tiếng cha ông mà người Việt ở hải ngoại muốn gìn giữ gặp thêm khó khăn.

Là một người dạy ngôn ngữ, giáo sư Quyên Di cởi mở khi nói rằng: “Với tiếng Việt chữ nào đúng thì dùng, không nên phân biệt trong nước với hải ngoại. Ngay cả trong nước hiện nay cũng có nhiều từ được dùng không ổn cũng cần phải sửa.”

Nên dạy tiếng Việt có tương lai

Trước năm 1975, tiếng Việt tại miền Nam và cả miền Bắc sử dụng rất nhiều từ có gốc Hán-Việt. Điều này do chữ Quốc ngữ được sử dụng như cách viết chính thức của một dân tộc chưa lâu, đã quen với ảnh hưởng hàng ngàn năm trong việc sử dụng chữ Hán, giai thoại, điển tích có gốc gác từ Trung Quốc là điều dễ hiểu.

Ở miền Nam trước năm 1975, việc phiên âm các tên riêng nước ngoài qua trung gian chữ Hán như New York được gọi là Nữu Ước, thủ đô Washington gọi là Hoa Thịnh Đốn, Australia gọi là Úc Đại Lợi, Canada gọi là Gia Nã Đại… giờ thì nghe lạ tai và khó hiểu.

Điều này còn có thể tại miền Nam trước năm 1975 để phản ứng lại sự ảnh hưởng nhanh chóng, rộng khắp của văn hóa phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, nên nhiều trí thức đã phản ứng lại bằng cách dùng nhiều từ gốc Hán trong chữ Quốc Ngữ như giữ lại lề thói của cha ông.


Nguồn hình ảnh, Võ Ngọc Ánh
Một cuốn sách học tiếng Việt tại Mỹ

Việc nhiều người Việt ở hải ngoại đã học và đã sinh sống ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 còn tình cảm với cách sử dụng chữ Quốc ngữ thời đó lẽ dĩ nhiên là điều nên được tôn trọng.

Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ sử dụng trước năm 1975 với hiện nay đã có quá nhiều thay đổi. Đừng vì lý do tình cảm, hay yếu tố chính trị mà dạy cho con trẻ ở hải ngoại sử dụng tiếng Việt ở miền Nam trước năm 1975 và cho đây mới là tiếng Việt đúng và cần phải bảo tồn.

Tôi có thể nói, tiếng Việt trước năm 1975 ở miền Nam, giờ đã là ngôn ngữ không có tương lai. Không còn cơ quan công quyền nào sử dụng nó, không mấy ai dùng nó để sáng tác, và số người dùng nó ngày một ít đi.

Tại Mỹ bây giờ, việc dịch tiếng Anh ra tiếng Việt trong các tài liệu của cơ quan chính quyền, trường học, bệnh viện… cũng được dịch theo cách tiếng Việt trong nước đang dùng.

Do dó, tiếng Việt được thể hiện như thế nào sẽ do người Việt trong nước quyết định chứ không phải vài triệu người ở hải ngoại đang loay hoay trong việc giáo dục với hi vọng chúng hiểu được tiếng của cha ông.

Bởi thực tế con cháu tại hải ngoại học tiếng Việt thường là do cha mẹ, ông bà ép thúc chứ không phải là sự tự nguyện, hoặc ưa thích. Ngay cả con tôi cũng không thích các lớp học tiếng Việt, vì nó không vui như học ở trường.

Tại hải ngoại, khi thế hệ đầu sử đụng tiếng Việt trước 1975 ngày một ít đi, thì đến đời con, cháu,… việc sử dụng tiếng Việt lại càng khó khăn nếu không muốn nói là hiếm hoi hơn.

Đành rằng tiếng Việt của gần 100 triệu người trong nước đang sử dụng có nhiều từ xa lạ với người miền Nam trước năm 1975, vốn do thực tế của xã hội ảnh hưởng và chi phối, nhưng không thể vì thế mà “mặc” cho tiếng Việt ở trên chính quê hương của nó là chữ “Việt Cộng”, hay tiếng Việt trong nước là sai, chỉ có tiếng Việt ở hải ngoại mới đúng.

Điều lớn nhất của người Việt ở hải ngoại lo lắng là con cháu có nói, đọc, viết được tiếng của tổ tiên, cha ông hay không chứ không phải là chữ Việt Cộng hay Cộng hòa.

Tâm huyết dạy, học và gìn giữ tiếng Việt ở hải ngoại là điều đáng trân trọng. Các cá nhân, tổ chức soạn thảo rõ ràng đã đầu tư, cố gắng hoàn thiện. Nhưng dạy một ngôn ngữ cần phải cập nhật, chứ không nên dựng những rào cản chỉ để bảo tồn.

Để con cháu có thể nói được tiếng Việt thì cộng đồng, các trung tâm Việt ngữ, giáo viên, phụ huynh cần thống nhất với nhau về ngôn ngữ được sử dụng (trong) ở thực tế.

Mong rằng chuyện chính trị chi phối việc tiếp cận tiếng Việt rồi sẽ qua đi… để chỉ còn người Việt với nhau trong ngôn ngữ của cha ông, cái nền tảng quan trọng nhất để nhận biết cùng một dân tộc.

14 tháng 4 2024

Nỗi Sung Sướng Của Kẻ Được Đồng Nghiệp Nhớ Lại Một Cuốn Sách Cũ

14.5.2022 - Vương Trí Nhàn

VuongTriNhan-01-01

Ảnh kèm theo là do tôi trích từ Fb Trần Đình Sử ngày hôm nay. Tôi đã cảm ơn anh trong mấy câu còm - men bên dưới ảnh nay xin ghi lại để các bạn cùng đọc.

"Xin cám ơn anh Sử còn lưu giữ kỷ niệm cũ.

Dăm năm sau tập CBĐN này. khi tôi làm tập sưu tầm Người xưa cảnh tỉnh và mon men định viết thói hư tật xấu người Việt rồi bị đánh hội đồng, có lần găp nhau ở HNV, anh còn ân cần gọi riêng tôi ra, động viên tôi, khuyên tôi đừng mất tinh thần.

Cách đây gần ba năm sau khi tôi đã bị tai biến, cùng Lại Nguyên Ân đến thăm tôi, lúc sắp về, anh còn nói nhỏ đủ cho tôi nghe tiếng rằng cùng với việc viết phê bình, VTN còn là một người viết văn - ý anh muốn nói các tập phiếm luận của tôi.

Những kỷ niệm ấy làm sao tôi quên được."

---

và NỖI SUNG SƯỚNG CỦA KẺ ĐƯỢC TÁI BẢN SÁCH

Nhân dịp này, xin "báo cáo" thêm với anh Sử và các bạn một chi tiết nữa:

cuốn CBĐN tôi tặng anh 20 năm trước là bản in lần thứ nhất.

Sau đó sách đã được tái bản hai lần.

Anh là nhà giáo dạy dỗ hàng ngàn hàng vạn sinh viên, sách viết ra tái bản là chuyện thường, có cuốn của anh in tới 7-8 lần, tôi biết.

Còn bọn như tôi, mỗi lần sách cũ được tái bản còn sung sướng hơn cả ra sách mới.

Đặc biệt CBĐN của tôi lần này 2021 được in ở nhà xuất bản Kim Đông mà lại nằm trong bộ sách "Bạn văn bạn mình" bao gồm 10 cuốn chuyên về chân dung văn học

10 cuốn đó là (xếp theo năm tháng in lần thứ nhất)

  1. “Phê bình và cảo luận” (Thiếu Sơn),
  2. “Hình dung và tâm tưởng” (Lan Khai),
  3. “Văn thi sĩ tiền chiến” (Nguyễn Vĩ),
  4. “Văn thi sĩ hiện đại” (Bàng Bá Lân),
  5. “Đốt lò hương cũ” (Đinh Hùng),
  6. “Chân dung văn học” (Nguyễn Tuân),
  7. “Mười chín chân dung nhà văn cùng thời” (Vũ Bằng),
  8. “Những gương mặt” (Tô Hoài),
  9. “Cây bút đời người” (Vương Trí Nhàn),
  10. “Bạn văn" (Nguyễn Quang Lập).

Trong danh sách này chỉ có hai người cuối cùng còn sống và tuổi "mới" bảy tám chục. Còn lại đều đã trên trăm tuổi và đã quy tiên.

20 tháng 2 2024

Truyền giáo và quốc ngữ - Một thế kỷ quốc ngữ

 

Thử đặt giả thuyết: Nếu người Pháp bị một thế lực ngoại bang bắt buộc phải viết lại chữ Pháp bằng một ngữ tự khác, không phải ngữ tự La tinh (ngữ tự Ả Rập chẳng hạn), và thứ chữ Pháp mới này, sẽ là chữ quốc ngữ Pháp, do người ngoại quốc sáng chế ra mà không cần tới sự hướng dẫn của một người Pháp nào. Người ngoại quốc này có thể là ông Nguyễn Văn Mỗ, tương tự như ông Alexandre de Rhodes, chẳng hạn. Thì người Pháp sẽ nghĩ sao? Họ có tin được việc này không?

Tôi không nghĩ có người Pháp nào chấp nhận việc một người Việt đến Pháp ở vài năm, có thể sáng chế ra chữ mới cho người Pháp viết, làm tự điển cho người Pháp học, mà không cần sự giúp đỡ, của một người (Pháp) bản xứ nào.

Vậy mà việc này đã xẩy ra với chữ quốc ngữ Việt, và người Việt tin là thật, rằng chữ quốc ngữ hoàn toàn do người Âu sáng tạo, ông tổ là người Pháp Alexandre de Rhodes. Gần đây, xét lại, người ta đưa Francisco de Pina, người Bồ, lên làm tổ phụ chữ quốc ngữ. Tóm lại, cả hai "ông tổ" đều người Âu, không có người Việt nào cả.

Giả thuyết trên đây, dẫn đến câu hỏi thứ hai: Sau khi bị bắt buộc đổi chữ cũ sang chữ mới, tức là bị xoá sổ mười thế kỷ văn học, không đọc được Rabelais, Racine, Corneille, Voltaire, Rousseau, Balzac, Stendhal, Hugo, Baudelaire... nữa, thì người Pháp nghĩ gì?

Họ có hoan hô thứ "chữ quốc ngữ Pháp mới" này, đã "khai sáng" mở cửa cho họ vào một nền "văn minh mới" không? Chưa kể, nếu việc này xẩy ra vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (như ở nước ta), thì Marcel Proust sẽ viết A la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) bằng thứ chữ gì, hay là không viết gì cả?

Chúng tôi xin mạn phép trả lời: Không. Không có người Pháp nào hoan hô và chấp nhận điều đó. Nhưng họ đã làm cho người khác.

Và chúng ta, người Việt, đã (và còn) "hàm ơn" mãi việc chữ Việt được đổi từ chữ Nôm lạc hậu sang chữ Quốc ngữ tân tiến, giúp chúng ta tiếp thụ mau chóng văn hóa Tây phương.

Điểm này, cũng chỉ là ảo tưởng: bản thân chúng tôi, được học chữ quốc ngữ từ nhỏ, năm 18 tuổi sang Pháp du học, sống trên đất Pháp hơn 60 năm, mà đến nay 80 tuổi, hàng ngày vẫn còn phải học tiếng Pháp, đọc sách Pháp, nếu muốn hiểu chút ít về văn hóa Pháp. Chữ quốc ngữ (Việt) không giúp gì cho tôi trong việc tìm hiểu văn chương, văn hóa Pháp, vì hiển nhiên hai thứ chữ này chỉ có ngoại hình a, b, c... giống nhau, còn tất thẩy đều khác: biết đọc chữ quốc ngữ, không có nghiã là sẽ dễ học chữ Pháp, mặc dầu cả hai đều dùng ngữ tự La tinh.

Ngoài ra, trong việc phê bình, biên khảo, vì không biết chữ Hán, chữ Nôm, nên tôi không đọc được Khoá Hư Lục của Trần Thái Tôn, Bình Ngô Đại Cáo và thơ văn Nguyễn Trãi, không đọc được thơ thiền, không đọc được Kiều trong nguyên bản chữ Nôm, hay thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát... nói chi đến việc phân tích và phê bình văn thơ cổ điển của nước ta. Đối với người phê bình, đó là một sự tủi nhục. Khi về nước, tôi cũng không đọc được những gì viết trên văn bia chùa chiền, lăng miếu, không hiểu được gia phả tổ tiên. Không một nhà phê bình nào "hân hoan" chấp nhận việc họ không thể đọc và viết phê bình về mười thế kỷ văn học của nước họ.

Tình trạng mù chữ đó, chúng ta có từ nhỏ, rồi quen đi, không bàn đến nữa, thậm chí, những gì ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm, ta cho là "không phải chữ", không cần biết.

Sở dĩ có sự chấp nhận một chiều những gì người Pháp áp đặt cho chúng ta, mà không hề đặt câu hỏi ngược lại: nếu ta làm cho người Pháp điều đó, có được không? Bởi vì chúng ta sinh ra là người bị trị, không dám coi mình ngang hàng với người Pháp nói riêng và người Âu nói chung, luôn luôn "tưởng" người Pháp, người Âu là thày ta về mọi mặt.

 

Ai tạo ra chữ quốc ngữ?

Đã hơn một thế kỷ qua, người Việt chấp nhận việc "được học" chữ quốc ngữ như một ân huệ mà không hề phản bác, hoặc chỉ cãi cọ xung quanh vấn đề: ÔNG TỔ chữ quốc ngữ là người Bồ de Pina, hay người Pháp de Rhodes. Nhưng chưa từng đặt vần đề: Vậy ai dạy cho hai "ông tổ" câu tiếng Việt đầu tiên? Ai giải thích cho hai ông tổ cách phát âm và ngữ nghiã của mỗi tiếng Việt?

Tất nhiên không phải cậu bé được Alexandre de Rhodes nói đến trong ký sự Du hành và truyền giáo (Voyages et Missions) đã dạy ông ta tiếng Việt, mà không cần đến sự cộng tác của một hay nhiều người Việt, thông thạo tiếng mẹ đẻ.

Vậy mà chúng ta đã ngoan ngoãn chấp nhận "sự kiện" này. Thậm chí còn có những bài viết tựa đề: Tiếng Việt thời Alexandre de Rhodes. Coi de Rhodes không chỉ là "thuỷ tổ" của tiếng Việt, mà còn là một triều đại, một văn hào của nước ta.

Alexandre de Rhodes là ai? Đã làm gì cho nước Việt? Chúng ta sẽ dần dần tìm hiểu và cũng là một trong những mục đích của cuốn sách này.

Hiện nay, khuynh hướng cho rằng việc sáng tạo chữ quốc ngữ là công trình tập thể của một nhóm giáo sĩ: de Pina (Bồ), Borri (Ý), Amaral và Barbosa (Bồ) được nhiều người chấp nhận.

Từ năm 1972, linh mục Đỗ Quang Chính đã thiết lập đanh sách các giáo sĩ giảng đạo ở Việt Nam từ 1615 đến 1788, theo thống kê của Dòng Tên, gồm có: 74 người Bồ, 31 người Việt, 30 người Ý, 20 người Đức, 8 người Nhật, 5 người Pháp...[1].

Con số chính thức được ghi nhận ở đây: 31 giáo sĩ người Việt này không tìm thấy tên ở đâu cả, vì người Âu không có "truyền thống" nhắc đến tên người bản xứ, coi như 31 vô danh; chưa kể họ còn "cướp tên" hoặc tự tiện đổi tên tác giả; giáo sư Nguyễn Văn Trung từng nói đến tình trạng này trong môi trường công giáo:

"Từ điển mang tên Pigneau de Béhaine hay Taberd, nhưng chính những tác giả này thú nhận  vai trò chủ chốt soạn thảo là do linh mục Hồ Văn Nghị và Phan Văn Minh... Có lẽ, trường hợp Majorica thế kỷ XVII cũng vậy..."[2] [ý ông muốn nói tới bộ Truyện Các Thánh, truyện Nôm, không phải tất cả đều của Majorica viết ra, mà còn của nhiều tác giả [Việt] khác nữa].

Về cuốn tự điển được ghi là của Pigneau de Béhaine hay Bá Đa Lộc: chúng tôi chắc chắn Bá Đa Lộc không để lại cuốn tự điển nào, vì đã đọc kỹ lá chúc thư rất chi tiết của vị giám mục, ông ghi cả đến những vật dụng nhỏ nhất, cho ai, nhưng không thấy ông nhắc đến bản thảo một cuốn tự điển nào, trừ bộ từ điển bách khoa ông biếu vua Gia Long. Vì vậy, ta có thể đoán rằng: Taberd hoặc ai đó tìm thấy trong nhà dòng bản thảo tập tự điển do linh mục Hồ Văn Nghị soạn (cha Nghị là người thân tín của Bá Đa Lộc và vua Gia Long), đưa in dưới tên Pigneau de Béhaine, rồi cộng tác với linh mục Phi-líp-phê Phan Văn Minh[3] để bổ sung và hoàn chỉnh tập tự điển, sau gọi là tự điển Taberd.

Tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, cũng ở trong trường hợp tương tự: Gaspar d'Amaral và Antonio Barbosa, hai linh mục học giả Bồ, sống ở Đàng Ngoài sáu hay bảy năm, đã soạn hai cuốn tự điển giản yếu Việt-Bồ-La và Bồ-Việt, nhưng cả hai đều mất sớm. Alexandre de Rhodes dùng tác phẩm của họ và của "nhiều cha khác cùng Dòng Tên", việc này ông đã viết trong lời Tựa tự điển Việt-Bồ-La, nhưng, để đề cao một mình de Rhodes, các tác giả Pháp không nhắc đến, còn người Việt, hầu như không ai dùng tự điển Việt-Bồ-La (vì không biết tiếng Bồ và tiếng La), chỉ nhắc đến tên bộ tự điển này để vinh thăng de Rhodes là ông tổ chữ quốc ngữ.

 

Gia Định Báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên

Gần mười thế kỷ văn chương cổ điển của Việt Nam đã bị xoá sổ từ khi chúng ta dùng chữ quốc ngữ, cách đây hơn một thế kỷ.

Việc này, có vẻ như tự nguyện. Trong bài nghiên cứu tựa đề Gia Định Báo, Trần Văn Chi cho biết: Trương Vĩnh Ký được Phó Đô đốc Pierre Gustave Roze, quyền Thống đốc Nam Kỳ mời ra làm quan, sau khi ông từ Pháp về năm 1865[4], nhưng ông không nhận, mà xin được lập một tờ báo quốc ngữ:

"Petrus Ký từ chối và xin lập một tờ báo quốc ngữ mang tên là Gia Định Báo. Lời yêu cầu của ông được chấp thuận và nghị định cho phép xuất bản được ký ngày 1 tháng tư, nhưng không phải ký cho ông mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux, một viên thông ngôn làm việc tại Soái phủ Nam kỳ.

Tên gọi chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào năm 1867 trên Gia Định Báo.

Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ Tây bị lược bỏ khỏi tên gọi để chỉ còn là chữ quốc ngữ, có nghiã là văn tự tiếng Việt."[5]

Như vậy, kể từ khi chữ quốc ngữ bị ngủ quên trong các thư viện nhà dòng Âu Châu, từ giữa thế kỷ XVII, Trương Vĩnh Ký là người tiên phong tự nguyện xin cho thứ chữ này được xuất hiện trở lại, dưới hình thức tờ báo quốc ngữ đầu tiên.

Tuy nhiên, Pháp chưa cho ông làm chủ bút ngay, chủ bút phải là người Pháp, Trương Vĩnh Ký được chỉ định làm trợ bút trong ba năm[6]Trần Văn Chi viết tiếp:

"Và phải đến ngày 16 tháng 9 năm 1869 mới có nghị định của Phó Đô Đốc Marie Gustave Hector Ohier ký giao Gia Định Báo cho Trương Vĩnh Ký làm "chánh tổng tài " (tiếng Pháp: rédacteur en chef) nay gọi là giám đốc; Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Từ khi được bổ nhiệm làm Chánh Tổng Tài tờ Gia Định Báo (16-9-1869), Trương Vĩnh Ký có cơ hội để phát triển dịch thuật và viết văn bằng quốc ngữ (...). Thái độ truyền bá học thuật bằng ký tự La tinh này được ông thể hiện với Richard Cortembert ngay từ chuyến công du sang Pháp."[7]

Theo Nguyễn Văn Trấn:

"Đối với Trương Vĩnh Ký, chuyến đi nầy là sự kiện quan trọng nhứt đời.

Ở Penang là một khóa học Tám Năm.

Thăm Paris, lại là khóa học Tám Tháng"[8].

Tóm lại, trong chuyến đi Pháp (1863-1865) Trương Vĩnh Ký là thông ngôn của Soái phủ Nam kỳ, đã cộng tác với Richard Cortembert, để "thể hiện chương trình truyền bá quốc ngữ bằng ký tự La tinh".

Mặt khác, Trần Văn Chi còn cho biết: tờ Gia Định Báo số 4, (do Huỳnh Văn Tòng tìm thấy ở Pháp) lại ghi: phát hành ngày 15-7-1865, tại Trường Sinh Ngữ Đông Phương, Paris[9].

Như vậy, ta có thể hiểu thêm rằng: Paris quyết định việc truyền bá chữ quốc ngữ. Trương Vĩnh Ký chỉ là người thừa hành.

Gia Định Báo ban đầu chỉ đăng những thông tin của chính phủ Pháp. Sau khi Trương Vĩnh Ký lên làm tổng tài, có thêm phần dịch thuật và biên khảo.

Trần Văn Chi viết: "Đến năm 1882, chữ quốc ngữ được dùng làm văn tự chính thức (...) các quan địa phương phải học chữ quốc ngữ (...) Tới năm 1918, quốc ngữ trở thành chữ viết bắt buộc ở Bắc Kỳ"[10], và ông nhận định: "Gia Định Báo đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình" (sau gần nửa thế kỷ tồn tại, từ 15-4-1865 đến 31-12-1909)[11]. Sứ mạng này gồm 6 mục tiêu:

1- Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà (lời Trương Vĩnh Ký).

2- Gia Định Báo dùng [để] loại bỏ văn hóa Trung Hoa.

3- Gia Định Báo dạy viết nhựt trình.

4- Gia Định Báo dùng làm sách giáo khoa.

5- Gia Định Báo đào tạo công chức.

6- Gia Định Báo dạy viết văn xuôi.

Trần Văn Chi viết: "Lợi ích và vai trò của quốc ngữ còn được ông [Trương Vĩnh Ký] nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học), 1876, như sau:

"Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này."[12]

Một thế kỷ sau, Nguyễn Văn Trung coi việc "phổ biến" này là một "điều đáng tiếc":

"Dĩ nhiên không bỏ qua việc sáng chế ra chữ viết theo mẫu tự La tinh, nhưng không nên đề cao nó quá đáng bằng cách gán cho nó những vai trò giáo dục văn hoá vượt khỏi những khả năng của nó. Bây giờ nhìn lại diễn tiến lịch sử gần đây mới thấy được những hạn chế của nó đến nỗi có thể nói xét về mặt nào đó, sự thành công trong việc phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ đã là một điều đáng tiếc."[13]

Từ khi chữ quốc ngữ trở thành "chữ viết của nước nhà", phần đông người Việt không đả động đến tảng Hán Nôm nữa, coi như "tử ngữ" chết mòn trong các thư viện cổ. Tai hại hơn, hầu như chúng ta đều tưởng rằng: văn chương Việt Nam chỉ bắt đầu với chữ quốc ngữ.

 

Việc khai quật lại di sản chữ Hán

Phải gần 100 năm sau, khoảng 1960, việc dịch các sách lịch sử, biên khảo và văn thơ Hán Nôm mới bắt đầu trở lại, ở Viện Sử Học, Viện Hán Nôm và Viện Văn Học, ngoài Bắc. Trong Nam, trước 1975, việc dịch thuật, không có gì đáng kể.

Để hiểu những khó khăn này, ta cần nhìn qua thời gian thực hiện vài bộ sách chính:

Về lịch sử, bộ Đại Nam Thực Lục, Viện Sử Học bắt đầu dịch từ 1962 đến 2012, mới in xong.

Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, dịch và in từ năm 1985 đến 1992.

Về văn thơ, Viện Văn Học dịch và in ba tập Thơ văn Lý Trần, từ 1977 đến 1988.

Năm 1974, Đào Duy Anh, trong bài tựa sách Khóa Hư Lục, viết: "Trong thư viện Khoa học xã hội hiện còn 11.795 cuốn sách Hán Nôm, gồm 10.609 cuốn sách chữ Hán (chỉ sách chữ Hán của Việt Nam) và 1.186 cuốn sách Nôm"[14].

Những sách này đã dịch được bao nhiêu cuốn? Chúng ta không biết rõ.

Một thí dụ: Cuốn tiểu thuyết lịch sử Nam Triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm viết về các chúa Nguyễn, mà Lê Quý Đôn, Đại Nam Thực Lục, Liệt Truyện, Cương Mục, đều phải dựa vào, tác phẩm này tương đương với Hoàng Lê nhất thống chí, viết về chúa Trịnh vua Lê, nhưng ra trước Hoàng Lê nhất thống chí gần một thế kỷ; mà mãi đến năm 2003, mới có bản dịch hoàn chỉnh[15]. Chưa kể giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, có lần cho tôi biết: thời trẻ, ông đã phải gián đoạn việc học trong nhiều năm vì lý lịch (ông là cháu nội cụ Ngô Đức Kế), sau lại gặp khó khăn trong việc dịch thuật các sách về nhà Nguyễn. (Như ta đã biết, khi Trần Huy Liệu làm Viện trưởng Viện Sử Học, nhà Nguyễn bị kéo xuống bùn).

Tóm lại, những khó khăn mọi mặt, đã tạo ra một khoảng trống sử học khổng lồ ở nước ta: trong hơn 100 năm, những người viết sử, vì không đọc hay không đọc được sách lịch sử và biên khảo chữ Hán, nên không tiến hành được việc nghiên cứu.

Vì thế, trong nửa đầu thế kỷ XX, chỉ có một cuốn Việt Nam sử lược (1920) của Trần Trọng Kim; nửa sau, có thêm Việt Nam Pháp thuộc sử (1961) và Việt sử xứ Đàng Trong (1969) của Phan Khoang. Đó là những sách sử đáng tin cậy. Trần Trọng Kim và Phan Khoang, đều biết chữ Hán, tham khảo sử của ta, nhưng Phan Khoang cũng đã tin vào lời các giáo sĩ thừa sai và sử gia thuộc địa về "việc cấm đạo" và "bế quan toả cảng". Thế hệ tiếp nối, như Tạ Chí Đại Trường, hoàn toàn viết theo sự chế biến của sử gia thực dân.

 

Di sản chữ Nôm

Nước ta có ba thời kỳ rực rỡ của nền văn học cổ điển:

- Thời Trần (thế kỷ XIII-XIV): Trần Cảnh (Thái Tôn) tác giả Khóa Hư Lục và Trần Khâm (Nhân Tôn, cháu nội), là tổ thứ nhất phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả hai bài phú Nôm xưa nhất còn lại, cùng các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, và các tác giả như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi... đều có thơ văn Hán Nôm để lại.[16]

- Thời Lê, tức thời Hồng Đức (thế kỷ XV), với thơ văn Lê Thánh Tôn, nhóm Tao Đàn, thi hào Nguyễn Trãi; Quốc Âm thi thập chứng tỏ Nguyễn Trãi đã làm "thơ tự do" từ thế kỷ XV.

- Triều Nguyễn, là thời kỳ cực thịnh của văn học, với Cung Oán, Chinh Phụ, Hoa Tiên, Tây Hồ Phú, Truyện Kiều, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát...

Hoàng Xuân Hãn nhận dịnh: "Cuối đời Trịnh, đầu đời Nguyễn là thời kỳ văn quốc ngữ [Nôm], văn Việt Nam cực kỳ thịnh. (...) Tiếng quốc ngữ được nổi lên, có nhẽ từ thế kỷ XVII, cho đến đời Minh Mạng. Quãng ấy là thịnh nhất."[17]

Truyện Kiều là mỏ vàng ngôn ngữ dân tộc, bản thân tác phẩm đã là một "ngôn ngữ" riêng trong tiếng Việt, nhưng phải đọc được chữ Nôm, loại chữ tượng hình, mới thấy hết những khía cạnh biến hóa của mỗi chữ trong Kiều. Đào Duy Anh đã làm từ điển truyện Kiều. Hoàng Xuân Hãn dành 50 năm soạn cuốn Kiều tầm nguyên, tìm lại những chữ đích thực Nguyễn Du viết ra[18]. Ông tìm lại văn bản không kỵ húy đời Gia Long, để xác định là bản xưa hơn cả, và xác định Nguyễn Du viết Kiều thời Tây Sơn. Ông dùng 8 bản Kiều in đời Tự Đức, so sánh từng chữ một, xét lai lịch mỗi chữ, để phân biệt và xác định. Ví dụ, chữ gieo, trong "Vàng gieo bóng nước cây lồng bóng sân" và treo trong: "Giọt sương treo nặng cành xuân la đà".

Hoàng Xuân Hãn nói: "Phải biết chữ Nôm, phải hiểu tiếng Việt, phải hiểu tiếng cổ, nhiều khi lại tiếng địa phương là chuyện khác nữa, thì lúc ấy mới hiểu thấu được những chữ ấy. Bởi vì một người như cụ Nguyễn Du, không viết những câu mà nói rằng là viết cho qua chuyện đi, ta hiểu thế nào cũng được cả. Không phải thế. Cụ viết một cách chính xác lắm. Chỉ là mình đọc không đúng mà thôi."[19]

Việc làm của Hoàng Xuân Hãn không chỉ để tìm lại văn bản gốc, mà còn giúp chúng ta hiểu tiếng Việt thế kỷ XVIII của Nguyễn Du. Vì vậy, muốn hiểu tiếng Việt thế kỷ XV, cần có sự nghiên cứu văn bản học tương tự về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

Kiều tầm nguyên của Hoàng Xuân Hãn, mãi đến nay mới được Nhã Nam, sửa soạn xuất bản, nghiã là sau khi vị học giả qua đời (1996) 27 năm.

 

Tình hình nghiên cứu văn xuôi

Người Việt ngày nay không biết mình có bao nhiêu truyện ngắn, truyện dài, viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chưa được dịch hay phiên âm sang chữ quốc ngữ.

Vì không có truyền thống giữ gìn nguyên bản, nên mảng văn Nôm truyện ngắn, truyện dài của nước ta, nay đã thất truyền, một phần vì giới trí thức nho học coi thường văn Nôm nên không lưu trữ, hoặc có mà vẫn còn nằm trong tủ bụi của Viện Hán Nôm hay một thư viện công, tư nào khác, chưa được đọc đến.

Sở dĩ, chúng tôi tin là chúng ta có truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, như người Tầu, người Nhật, vì dựa trên hai dấu hiệu rõ ràng:

1- Bài tựa Thiền Tông chỉ nam ca của Trần Thái Tôn (tác phẩm này đã mất, nhưng bài tựa vẫn còn), đích thực là một truyện ngắn. Thái Tôn kể lại chuyện mình: Đêm 3 tháng tư năm Bính Thân (9-5-1236) (18 tuổi) bỏ cung điện, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Trần Thủ Độ phải đem triều đình lên ăn vạ, rước về. Tác phẩm đầy đủ tính chất của một tự truyện hiện thực, có giá trị lịch sử và ngụ ý sâu sắc triết lý đạo Phật: "Trong núi không có Phật, Phật ở trong lòng" qua lời vị thiền sư chùa Trúc Lâm Yên Tử khuyên nhà vua trẻ.[20]

2- Mảng truyện Nôm công giáo, là một kho tàng chưa khai thác. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, năm 1953, khi giúp thư viện quốc gia Pháp làm thư mục, đã viết bài "Girolamo Majorica, tác phẩm bằng tiếng Việt của ông được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Girolamo Majorica, ses oeuvres en langue vienamienne conservées à la Bibliothèque Nationale de Paris)"[21].

Linh mục Thanh Lãng, cuối đời, cũng tha thiết nhắc đến mảng truyện Nôm này: "Câu truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoặc Théodora (...) nằm trong bộ truyện viết bằng chữ Nôm dài 1.673 trang, gồm trên dưới 500 truyện mà truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoc Théodora chỉ là một truyện cụ thể rút ra từ khối 500 truyện kia". Bộ truyện này đã "được Majorica biên soạn trong khoảng thời gian từ 1632 đến 1638, tức là cách đây hơn 350 năm" tại Kẻ Rum (Nghệ An)[22].

Mới đây, qua điện thư, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho tôi biết: khoảng 2002-2003, ông có dịp tiếp xúc với linh mục Nguyễn Hưng ở Sài Gòn, người đã có cả bộ photocopy nguyên bản truyện Nôm và đang nhờ cụ Võ Văn Kính, một nhà Nôm học giỏi, phiên âm ra quốc ngữ. Nguyễn Huệ Chi mua được một số bản, cả Nôm cả quốc ngữ, nhưng sau khi về Hà Nội, ông được tin linh mục Nguyễn Hưng qua đời, nên công trình bị bỏ dở. Trong bài viết tựa đề "Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu", Nguyễn Huệ Chi cho biết những thông tin về bộ sách này:

"... Kho Truyện các Thánh    đồ sộ mà chứng tích xưa nhất hiện còn là bộ sách cùng tên do Jéronimo Maiorica (vị cha cố người Italia, 1591-1656) đứng tên tác giả, hoàn thành từ 1646, đến nay còn giữ được 4.200 trang (...) gồm nhiều truyện kể ly kỳ về sự tích các ông Thánh cả Tây lẫn Đông. Xét về thủ pháp, huyền tích Thiên chúa giáo được sử dụng ở đây cũng như các môtip kỳ ảo trong thể loại tiểu thuyết truyền kỳ Đông Á, nhằm minh họa con đường "xả thân đắc đạo" của những người một lòng theo Chúa Giêsu, giống hệt loại truyện "linh dị ký" của văn học Phật giáo Nhật Bản thời Cổ trung đại. Theo Linh mục Tiến sĩ Nguyễn Hưng thì "mỗi câu chuyện được coi như một đoản thiên tiểu thuyết... Nhiều truyện na ná như Tê-lê-mặc phiêu lưu ký. Nhiều truyện giống như truyện Đức Phật Thích Ca xuất hành ra bốn cửa thành. Không thiếu những truyện tương tự như truyện Phật bà Quan Âm Thị Kính.

Điều đáng nói là kho "Truyện các Thánh" không phải sau Maiorica thì chấm dứt mà còn được nối tiếp cho đến hết thế kỷ XIX, chẳng hạn bộ Sách Thánh   của cha Dominique Martigia thu thập và công bố năm 1848 cũng phải trên dưới 2.000 trang, hay bộ Sách truyện các Thánh     của cố Joseph Marie Bigollet Kính tổng hợp nhiều bộ sách trước đó và công bố năm 1905 cũng không dưới 1.500 trang... "[23].

Vậy, hiển nhiên chúng ta có kho truyện Nôm đạo rất lớn chưa được tìm hiểu, phân tích, và trình bày cho công chúng. Truyện Nôm đạo có thể coi là tiểu thuyết bình dân, gần với  tiếng nói, khác với ngôn ngữ văn chương của các thi hào.

Nhưng sách đạo, thường không được người ngoại đạo chú ý; tệ hơn, vì đã từ hơn một trăm năm nay, chúng ta không quan tâm đến chữ Nôm, vì nhiều người coi những gì không viết bằng quốc ngữ, không phải là văn học!

Thêm một định kiến sai lầm nữa, cho rằng: chỉ châu Âu mới có truyện ngắn, tiểu thuyết hư cấu. Không. Không phải vậy! Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là một kiệt tác hư cấu, vượt Don Quichotte của Cervantes trên nhiều phương diện. Khi chúng tôi hỏi học giả Hoàng Xuân Hãn về truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, ông bảo đó là một tiểu thuyết hiện thực xã hội tả chân rất kỹ như Balzac.

Nữ sĩ Murasaki Shikibu viết trường giang tiểu thuyết Truyện Gengi bằng chữ Nhật (tức là chữ Hán đọc thành tiếng Nhật) từ thế kỷ XII, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại, với giọng văn đầy chất thơ: "Ánh trăng mồng bảy khắc những tia nhợt nhạt trên gương hồ. Trong mùa buồn bã, nhánh cây mập mờ phủ lá, những giây hoa võng trên cây tùng hình thù đặc biệt, thân nghiêng, đỉnh cao chót vót, phô bày một quang cảnh quyến rũ khác thường"[24]Lối văn phong tinh tế tuyệt vời này đã ảnh hưởng sâu sắc đến Kawabata sau này. René Sieffert, dịch giả tiếng Pháp, tự hỏi có nên gọi Murasaki là Marcel Proust Nhật Bản hay phải gọi Marcel Proust là Murasaki Pháp?

Phải đợi đến khi nước Nhật trở thành một cường quốc, rồi tình trạng dịch thuật và giao lưu văn hóa mở mang hơn, thế giới mới đọc Truyện Genji và thấy giá trị của Murasaki.

Được như vậy, bởi vì người Nhật và người Tầu không bị đổi chữ viết, cho nên họ có một nền văn học và nghiên cứu cổ văn liên tục, không trải qua một trăm năm gián đoạn như chúng ta.

 

Đô hộ và quốc ngữ

Một trăm năm đô hộ đi cùng với một trăm năm chữ quốc ngữ, đã khiến chúng ta coi thường, khinh mạn, không tìm hiểu nền văn học cổ điển của tiền nhân.

Tôi lấy một thí dụ: Khoá hư lục (nghiã là: tu luyện về đạo hư không)[25] của Trần Thái Tôn là một kiệt tác văn-thơ-triết, chữ Hán, được dịch nhiều lần: Phúc Điền hòa thượng (thời Tự Đức), Thiều Chửu (1932-33), Đào Duy Anh (1974)... nhưng đọc vẫn khó hiểu, các dịch giả của Viện Văn Học sau này, cũng đã hết sức cố gắng, nhưng vì bản chất tác phẩm là thơ, thứ thơ cô đọng và hàm súc, ẩn nghiã triết học, mỗi chữ là một giếng sâu khó dò. Đào Duy Anh nhận định:

"Khóa Hư Lục không những là bộ sách quan trọng và xưa nhất chúng ta còn giữ được mà Trần Thái Tôn không chỉ là nhà tu hành đắc đạo mà là một nhà triết học sâu sắc và một nhà thi sĩ trữ tình dào dạt, chủ trương thanh tĩnh một cách rất sôi nổi xúc động. Tất cả các bài kệ đều là thơ, thơ thất ngôn, ngũ ngôn hoặc tứ ngôn; tất cả những bài khác đều là bài văn biền ngẫu chặt chẽ và đầy hình tượng."[26]

Chỉ mấy câu kệ:

"Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh"

Đủ thấy những cuồng phong vũ bão trong tim Trần Thái Tôn, thấy những sôi sục trong hình ảnh, đam mê trong tình ý, đảo điên trong vũ trụ, ngụ trong lời thơ của con người đã dẹp tan quân Mông Cổ, và cũng là người yêu tha thiết say mê... 

Đây mới chỉ là bản dịch của Ngô Tất Tố, mà đã "kinh hoàng". Cho nên, nếu không giỏi chữ Nho để đọc thẳng nguyên bản, chỉ đọc những bản dịch, tất không thể thấu hết được cái hay của Khóa Hư Lục, giống như ta đọc bản dịch thơ Đường sang thơ lục bát. Tôi đã phải đọc thơ Đường qua bản dịch từng chữ một của François Cheng, mới hiểu được cái hay và tính cách độc lập của mỗi chữ trong thơ Đường; nhưng vẫn không thấy được tính cách gợi hình trong mỗi chữ Hán. Bởi vì bản dịch là một tác phẩm lai: tác giả chỉ có một phần, lớn hay nhỏ, tùy tài năng người dịch, phần kia là chữ nghiã của dịch giả.

Cho nên, việc không đọc được nguyên tác chữ Hán, chữ Nôm, là một bất lực, một tàn tật của người phê bình, trước di sản tiền nhân.

Nếu người Pháp bị xoá sổ mười thế kỷ văn học cổ điển của họ thì Rabelais, sẽ không bao giờ được đọc, và các nhà phê bình lớn như Bakhtin (Nga), Spitzer và Auerbach (Đức) không thể tìm hiểu và giới thiệu ngôn ngữ Rabelais với thế giới.

Tội ác nhân loại mà Tổng thống Emanuel Macron nói đến trong chính sách thực dân chính ở chỗ đó: không chỉ giết người cướp lãnh thổ, mà còn tiêu diệt cả đời sống tinh thần, biến người bị trị thành vô học, vô cảm, trước di sản tiền nhân.

 

Mục đích của chính phủ Pháp

Khi Toàn quyền Doumer đến Đông Dương năm 1897, một trong những việc đầu tiên của ông ta là thăng viên khâm sứ Pháp ở Huế lên địa vị chủ trì Cơ Mật Viện thay vua, bằng dụ Thành Thái ngày 27-9-1897. Sau đó, tất cả các dụ khác, như dụ: bãi bỏ chức Kinh lược sứ của vua ở Bắc kỳ để thay bằng viên Công sứ Pháp; lệnh bắt buộc dạy chữ quốc ngữ ở Bắc kỳ; lệnh bãi bỏ thi Hương; lệnh đóng cửa các trường học chữ Hán, đều do triều đình Huế ký, tức là  họ đã mượn chữ ký của vua để thi hành những điều phản dân tộc.

Việc đổi chữ viết, từ chữ Nôm sang Quốc ngữ, nằm trong một chính sách cai trị khôn khéo, với bốn mục đích chính:

1Gạt bỏ từng lớp trí thức nho học ra ngoài lề xã hội. Từ địa vị quản trị đất nước và giáo dục thanh niên, họ trở thành vô dụng. Bởi vì họ là bức tường chống Pháp mạnh mẽ cuối cùng, cả về mặt quân sự, lẫn văn hoá.

2- Gạt bỏ 20 thế kỷ tư tưởng phương Đông, 10 thế kỷ văn học cổ điển, biến người Việt thành một dân tộc vô văn hóa, phải học lại mọi sự từ đầu.

3- Xoá bỏ lịch sử xâm lược Việt Nam ghi trong Đại Nam Thực Lục, để thay bằng lịch sử "khai hoá" An Nam do sử gia thực dân viết.

4- Tạo sự kính nể vô bờ nền văn hóa Pháp và Tây phương, ở những "người Việt mới", mù chữ của tiền nhân.

Một ngàn năm đô hộ Tầu, khiến chúng ta coi chữ Hán là "chữ thánh hiền". Một trăm năm đô hộ Pháp đã biến người Việt thành những đứa con bái phục vô điều kiện nền văn hóa nước mẹ.

Đến nỗi người Pháp dám đưa ra một "ông tổ" sáng tạo ra chữ quốc ngữ, không thạo tiếng Việt, không viết được một câu tiếng Việt cho ra hồn (xem Phép giảng tám ngày). Vậy mà chúng ta vẫn sùng bái lập tượng, đặt tên đường.

Sự tôn sùng chữ quốc ngữ nằm trong mặc cảm tự ti của người bị trị, dẫn đến tinh thần vọng ngoại cao độ, còn tồn tại đến ngày nay: Hiếm thấy sách, báo nào trích dẫn một câu văn, một lời nói, có ý nghĩa của người Việt, mà toàn trích dịch lời các tác giả Âu, Mỹ, như thể nước ta không có nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng nào cả.

 

Tại sao chữ quốc ngữ không phát triển được trong ba thế kỷ?

Chữ quốc ngữ được hình thành từ đầu thế kỷ XVII, mà sao trong ba thế kỷ, XVII, XVIII, XIX, hầu như không có một tác phẩm quốc ngữ nào để lại?

Những tập Truyện các thánh, dàn trải trong ba thế kỷ, đều viết bằng chữ Nôm. Bản phóng tác Thánh Kinh của linh mục Lữ Y Đoan, ra đời nửa sau thế kỷ XVII cũng viết bằng chữ Nôm.

Trong nền văn chương thế tục, hầu hết các tác phẩm lớn, nhỏ của văn học Việt Nam trong hai thế kỷ XVIII và XIX, đều viết bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán, không ai dùng chữ quốc ngữ cả.

Văn bản quốc ngữ đầu tiên có lẽ là Phi Năng thi tập của linh mục Phi-lip-Phê Phan Văn Minh (1842)[27], nhưng người công giáo cũng không biết đến[28]. Rồi tới Kiếp phong trần của Trương Vĩnh Ký [in lần thứ ba năm 1882][29], được giới thiệu là "áng văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ vào loại cao niên nhất"[30], chỉ là lời triết lý vụn giữa hai người bạn Trương Đại Chí và Lê Hảo Học, về những thăng trầm của cuộc đời, chưa thể gọi là truyện ngắn hay tiểu thuyết được.

Phải đến Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887, Sài Gòn), ta mới có tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên. Theo Nguyễn Văn Trung, truyện của Nguyễn Trọng Quản được dịch ra Pháp văn gần hết, được chú giải kỹ lưỡng và dùng để giảng dạy trong chương trình của A. Chéon, cùng với truyện ngắn của Trương Vĩnh Ký và Paulus Của. Hiển nhiên người Pháp muốn xác định rằng nền văn chương Việt Nam chỉ bắt đầu với những văn bản quốc ngữ này[31].

Tại sao dân tộc ta dị ứng với chữ quốc ngữ trong ba thế kỷ?

Tại sao Tự Lực văn đoàn phải "nhảy vọt" từ văn chương cổ điển Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ, hoàn toàn khác?

Thực ra, không có sự "nhảy vọt" nào cả, mà nền văn học hiện đại quốc ngữ đã tiếp nối nền văn chương cổ điển chữ Nôm, dù bị thay đổi chữ viết nhưng vẫn âm ỷ sống trong lòng dân tộc như một rường cột vững chắc, về văn chương tư tưởng. Chúng ta dị ứng với quốc ngữ vì lẽ đó.

Nếu các dịch giả và học giả Việt Nam, không phiên âm Ca dao, thơ Nôm, dịch thơ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, để nhà văn có thể tìm thấy tinh chất trong các tác phẩm cổ điển và dân gian, làm sườn cho văn chương của họ, thì nền văn học quốc ngữ chưa thể bắt đầu.

Chúng ta không nên quên rằng ngôn ngữ và tư tưởng trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, hoàn toàn xây dựng trên nền móng tư tưởng triết học Phật giáo và lấy chất liệu ngôn ngữ trong văn thơ Hán Nôm và Ca dao, chứ không phải từ các tiểu thuyết của Pháp.

Tất cả những chủ đề lớn của họa sư Lê Bá Đảng, suốt đời làm việc ở Pháp, Mỹ, Nhật, đều rút ra từ huyền sử Việt Nam và triết học Đông phương.

 

Không thể làm lại lịch sử

Viết những điều này ra đây, không có nghiã là chúng tôi muốn quay trở về với chữ Nôm, điều đó không thể được. Không ai làm lại lịch sử.

Ỏ đây, chúng tôi thử làm một việc có thể làm được là nghiên cứu và phục hồi phần lịch sử đích thực về truyền giáo và quốc ngữ, đã bị một số thừa sai và sử gia thực dân trá mạo, đưa ra những tuyên truyền sai lạc về lịch sử cận đại Việt Nam.

 

1- Về truyền giáo, việc cấm đạo ở Việt Nam, từ trước đến nay thường được quy chụp cho "sự tàn ác" của vua quan nhà Nguyễn. Nhưng khi điều tra kỹ thì việc cấm đạo có nguồn gốc khác:  

Sự miệt thị những giá trị tư tưởng và tín ngưỡng chân truyền của người Việt, trong các bài giảng của giáo sĩ, đã khiến các chúa nổi giận; đã khiến linh mục học giả Lữ Y Đoan, ngay từ thế kỷ XVII, đã phải phóng tác lại Kinh thánh ra thơ Nôm, cho phù hợp với truyền thống văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt.

Lữ Y Đoan đã hoàn thành công trình đồ sộ: Sấm Truyền Ca, diễn Nôm năm quyển sách của Moise trong Thánh kinh cựu ước, thành thơ lục bát, làm xong năm 1670. Như vậy, việc phản kháng sự bổ báng trong các bài giảng của giáo sĩ người Âu, đã có ngay trong giáo đường của ta từ thế kỷ XVII. Sấm Truyền Ca bị các giáo sĩ Pháp triệt để cấm, khiến sau này bị mai một.

Lý do cấm đạo ở Việt Nam, vì vậy, rất phức tạp, không phải là sự cấm đoán tùy hứng và độc đoán của vua chúa "tàn ác, ngu muội" như sách vở thực dân vẫn tuyên truyền, và người Việt "hồn nhiên" chép lại trong sách sử của mình, mà không phản bác.

Lúc đầu các chúa ở hai miền Nam, Bắc đều đón nhận đạo Gia Tô một cách nồng nhiệt, rồi sau họ cấm. Lý do chính là việc phỉ báng Tam giáo (Khổng, Lão, Phật) và cấm thờ cúng tổ tiên, mà Tòa Thánh gọi chung là Nghi lễ. Việc hoàng tử Cảnh, năm 1789, 9 tuổi, ở Pháp về không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên, là một xì-căng-đan lớn, khiến Nguyễn Vương đã đàn hặc gắt gao Bá Đa Lộc, và từ đó triều Nguyễn cấm đạo Gia Tô. Giám mục Bá Đa Lộc đã tranh đấu với Roma về quyền thờ cúng cha mẹ cho đến hơi thở cuối cùng.

Những sự kiện này nằm trong "cuộc chiến" gay gắt giữa Giáo hoàng và các Hoàng đế phương Đông: Giáo hoàng Clément XI ra nghị định ngày 19-3-1715: tuyệt đối cấm Nghi Lễ. Hai năm sau, vua Khang Hy ra chỉ dụ triệt để cấm đạo ngày 17-5-1717. Trong bốn thế kỷ XVII, XVIII, XIX, XX, việc cấm Nghi lễ của Tòa thánh và việc Cấm đạo ở các nước Á châu, đưa đến tranh chấp đẫm máu: quân Pháp-Y Pha Nho mượn chiêu bài "thánh chiến" để đánh chiếm nước ta.

Sau khi thua trận, vua Tự Đức phải ký hiệp ước Nhâm Tuất, 1862, "nhượng" cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, và cho Pháp, Y Pha Nho được tự do giảng đạo. Mãi đến năm 1939, Giáo hoàng Pie XII mới chịu nhượng bộ, cho phép tín đồ được quyền thờ cúng tổ tiên. Từ đó, không còn nghị định nào của Roma phủ nhận quyền này nữa.

2- Vấn đề thứ hai là chữ quốc ngữ. Ngày nay nhiều người vẫn còn cho rằng chữ quốc ngữ là lối thoát duy nhất, để ra khỏi sự chậm tiến, nhưng không nhìn sang các nước bên cạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, vẫn viết chữ của họ (tức là chữ Hán) mà vẫn trở thành cường quốc.

Việc tìm lại lịch sử chữ quốc ngữ không dễ, bởi vì khi đọc những tư liệu về chữ quốc ngữ, trước tiên, ta sẽ bắt gặp hai thứ chữ mà phần lớn người Việt không biết đọc là chữ La tinh và Bồ Đào Nha. Biết chữ Bồ, chữ La, vẫn chưa đủ, còn phải biết cả chữ Nôm và chữ Hán nữa. Chúng tôi không có những khả năng này; là kẻ ngoại đạo, những gì chúng tôi viết ở đây, chỉ là sự thu thập những điều người trước đã viết nhưng chưa có sợi dây nối lại với nhau, thành một tiến trình lô-gích, một lập luận khoa học.

Linh mục Đỗ Quang Chính, là người đi trước, mở đầu, trong cuốn Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659[32], in năm 1972 ở Sài Gòn, ông đã tìm ra những văn bản quốc ngữ viết tay đầu tiên của nhiều giáo sĩ, được lưu lại trong các thư viện công giáo ở Roma, trong đó có bản thảo của hai thầy giảng người Việt là Văn Tín và Bento (tức Biển Đức) Thiện viết năm 1659.

Chúng ta cần nghiên cứu lại những văn bản này, để có thể xác định: tác phẩm chính của chữ quốc ngữ, thế kỷ XVII, không phải là Tự điển Việt Bồ la, hay Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes mà là Lịch sử nước Annam của Bento Thiện, vì chữ viết và cách lập ngôn trong văn bản này, khá hoàn chỉnh, gần được như chữ quốc ngữ chúng ta viết bây giờ.

Điều quan trọng hơn nữa là Biển Đức Thiện không chỉ viết những chữ quốc ngữ lẻ tẻ trong một lá thư hay bài văn bằng chữ La tinh hoặc chữ Bồ, mà ông viết hẳn một tập lịch sử ngắn  bằng chữ quốc ngữ. Trong khi các giáo sĩ người Âu, dù thạo tiếng Việt đến đâu, đều chưa ai viết được một câu quốc ngữ cho đúng văn phạm tiếng Việt. Cuốn sách Catechismus (Phép giảng tám ngày) của Alexandre de Rhodes, là chứng từ hiển nhiên nhất.

 

Kết luận

Sự tìm kiếm đưa chúng tôi đến một số nhận xét: chữ quốc ngữ, tuy được hình thành từ đầu thế kỷ XVII, nhưng chỉ dùng rất giới hạn trong nhà dòng, giúp một số giáo sĩ người Âu muốn học tiếng Việt để giảng đạo, chứ không truyền bá được trong dân gian.

Phải đến cuối thế kỷ XIX, khi nhà cầm quyền thuộc địa, cho ra tờ Gia Định Báo với Trương Vĩnh Ký làm tổng tài, mới bắt đầu truyền bá quốc ngữ được. Sang đầu thế kỷ XX, toàn quyền Pháp, dùng dụ của vua để ra lệnh bỏ chữ Hán, chữ Nôm, thay thế bằng chữ Pháp và quốc ngữ. Từ lúc đó chữ quốc ngữ mới "tái sinh".

Bởi vì người Việt không còn con đường nào khác, nên các học giả và nhà văn Việt Nam, chỉ trong khoảng hơn bốn mươi năm, đã phát triển mạnh mẽ chữ quốc ngữ, để đạt tới dạng thức đầy đủ từ ngữ văn chương, khoa học, triết lý như ngày nay.

Tác phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ quốc ngữ "tái sinh" này là Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, in năm 1895, cuốn tự vị tiếng Việt đầu tiên cho người Việt dùng, vẫn còn giá trị đến ngày nay. Xin nhắc lại một lần nữa: người Việt thường ca tụng cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, nhưng không ai dùng cả, bởi không mấy người biết tiếng Bồ và tiếng La tinh.

Tóm lại, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký đã xây dựng nền móng chữ quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX; Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh cùng nhóm Đông Dương và Nam Phong tạp chí tiếp nối, đầu thế kỷ XX, rồi đến Tự Lực văn đoàn và các nhà văn hiện đại, thập niên 1930. Chỉ trong hơn nửa thế kỷ, chúng ta đã dựng được một nền văn học quốc ngữ hoàn chỉnh.

Điểm sau cùng chúng tôi muốn nói đến ở đây là: Nền văn học Hán Nôm của chúng ta cần được bảo tồn và đào sâu. Người làm việc phê bình và nghiên cứu văn học cần phải học chữ Hán, chữ Nôm. Cần phải đẩy mạnh việc phiên dịch Hán, Nôm, để lấp dần chỗ trống hiện tại: còn bao nhiêu tác phẩm Hán Nôm của tiền nhân vẫn chôn trong tủ bụi? Còn bao nhiêu truyện hay chưa khám phá, chưa được chuyển sang chữ quốc ngữ, dù việc dịch, như trên đã nói, chỉ là phương pháp bất đắc dĩ. Chúng tôi xin chép lại đây lời giáo sư Ngô Đức Thọ, người đã dịch những cuốn sách cơ bản như: Thiền uyển tập anh  Đại Việt sử ký toàn thư, trong giai đoạn mở đầu, đã qua đời năm 2019:

"Tôi vẫn luôn luôn tâm niệm muốn thực hiện việc dịch thuật các tác phẩm Hán Nôm của nước ta. Nhưng muốn làm được việc này phải tự học rất nhiều, không những phải nắm vững cổ văn, các vấn đề triết học, sử học, địa lý học, ngôn ngữ học... cũng đều cần có những kiến thức  nhất định. Di sản Hán Nôm của ta hàm chứa nhiều những kiến thức đó, mình hiểu biết sơ sài, khó nói đến việc chuyển tải những giá trị đó đến với mọi người."[33]

Viết những dòng này, sau hơn sáu mươi năm sống ở Pháp, chúng tôi muốn thông tin cho giới trẻ Việt Nam biết rằng nền tảng văn học của chúng ta trong mười thế kỷ, đã bị người Pháp xóa bỏ như thế nào, bằng chữ quốc ngữ, khiến chúng ta bắt buộc phải tìm lại.

Một nền văn học bất hạnh như thế, lại trải qua một thời kỳ dài toàn trị, gạt bỏ tất cả những gì không chính thống, đặc biệt Tự Lực văn đoàn và Văn học miền Nam, để chỉ quanh quẩn với những sách được cho phép, đã khiến giới trẻ cảm thấy tù túng, coi thường văn chương Việt Nam, mà họ không biết rõ, nên hết sức vọng ngoại, háo hức đọc các sách dịch, đôi khi rất tồi về chất lượng dịch thuật cũng như nội dung tác phẩm, miễn là của người nước ngoài. Chúng tôi xin chép lại dưới đây lời tự kiểm của linh mục Thanh Lãng, như một chúc thư trước khi ông qua đời, ngày 17-12-1988:

"Chính chúng tôi, bỏ nước đi ra ngoài, quen nói tiếng nước ngoài, quên cả nguồn gốc ngôn ngữ của tổ tiên, đến khi về nước nghe lỏm được từ này từ nọ (...)  chúng tôi hý hửng cũng đòi ngôn ngữ tôn giáo phải đổi đời theo cái sàng khôn mà chúng tôi mới võ vẽ học lỏm được. Chúng tôi cũng từng vỗ ngực miệt thị cha ông xưa là dốt nát, nhưng chính trong lúc tố cáo cái dốt nát của tổ tiên thì chúng tôi lại để lộ cái dốt tệ hại của chính mình. Chúng tôi chế diễu các bản văn cổ, chúng tôi đòi sửa cho bằng hết các bản kinh, bổn, sách xưa, sách cũ..."[34]

Những lời tự phán này, giúp chúng ta nhìn nhận lại chính mình: khi không biết đến nền văn học nước nhà trong mười thế kỷ, thì dù có đọc bao nhiêu sách nước ngoài, cũng vô bổ.

Hoàng Xuân Hãn đã viết Kiều tầm nguyên trong chiều hướng đó.

Yên Cơ, Les Issambres, ngày 30-9-2023
Thụy Khuê
thuykhue.free.fr


[1] Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 của Đỗ Quang Chính, Tủ sách Ra Khơi, in tại Sài Gòn, năm 1972, Đường Mới chụp và in lại tại Paris, năm 1985,  trang 22.

[2] Nguyễn Văn Trung, Về một số sách cũ do người công giáo viết ra từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX,  in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), do Nguyễn Văn Trung soạn, Trường Đại Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh in năm 1993, trang 1.

[3] Linh mục Phan Văn Minh là học giả kiêm nhà thơ, tử đạo năm 1853, tác giả tập thơ quốc ngữ Phi-Năng thi tập.

[4] Trương Vĩnh Ký là thông ngôn của phái đoàn Soái Phủ Nam Kỳ trong chuyến phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1963, điều đình chuộc lại ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, đã mất năm 1862.

[5] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, đăng trong cuốn Kỷ yếu triển lãm và hội thảo Trương Vĩnh Ký (ngày 12 tháng 12 năm 2018 tại Nam California), Ban tổ chức xuất bản năm 2019, trang 38.

[6] Theo Nguyễn Văn Trấn: "làm trợ bút, từ 1866 đến 1868, mới được nhắc lên làm chủ bút" (Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật) trang 29.

[7] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 38-39.

[8] Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật), Ban Khoa Học Xã Hội Thành Ủy, Tp Hồ Chí Minh, 1993, trang 25.

[9] Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945- Nxb Tp Hồ Chí Minh, theo bài Gia Định Báo của Trần Văn Chi trong Kỷ yếu triển lãm và hội thảo Trương Vĩnh Ký, trang 42.

[10] Trần Văn Chi, Gia Định Báo,  bài đã dẫn, trang 41.

[11] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 42- 43.

[12] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, bài đã dẫn, trang 39.

[13] Nguyễn Văn Trung, Kitô giáo trong giao lưu văn hóa Tây phương với Việt Nam, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 149.

[14] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 5.

[15] Giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, một trong những chuyên gia Hán Nôm hàng đầu của ta, bắt đầu dịch Nam Triều công nghiệp diễn chí từ năm 1986, trải các năm, 1987, 1990, 1994, ông đều in các bản dịch đã chỉnh sửa theo các văn bản mới khám phá, phải đến năm 2003, mới có bản cuối cùng.

[16] Trần Cảnh (Thái Tôn), đánh quân Mông cổ lần thứ nhất với Trần Thủ Độ (1258), tác giả Khóa Hư Lục. Trần Tung (Tuệ Trung Thượng sĩ, con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo) và hai con của Thái Tôn: Trần Hoảng (Thánh Tôn) và Trần Quang Khải, đều là nhà thơ. Trần Khâm (Nhân Tôn), hai lần đánh quân Mông Cổ với Trần Hưng Đạo (1285 và 1287-1288) và là Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả hai bài phú Nôm đầu tiên, tìm thấy: Cư trần lạc đạo và Đắc thú lâm tuyền thành đạo. Anh Tôn, Minh Tôn, Nghệ Tôn đều có Ngự tập. Chưa kể các tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, đều làm thơ, các nhà sư lớn Pháp Loa, Huyền Quang Lý Đạo Tái, và các tác giả khác như Nguyễn Thị Điểm Bích, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi... đều để lại thơ Nôm và thơ chữ Hán.

[17] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California 2002, trang 194.

[18] Theo Hoàng Xuân Hãn: Kiều đã được chép đi chép lại nhiều lần trước khi in, mỗi lần chép người ta lại sửa một vài chữ theo ý mình, chưa kể, khi đem vào Huế, các ông hoàng thời Minh Mạng, nổi tiếng hay chữ, lại càng thích sửa.

[19] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California2002, trang 215.

[20] Thơ văn Lý Trần, tập II, trang 27-29, Nguyễn Đức Vân và Băng Thanh dịch.

[21] In trong Archivum Historicum Societatis Iesu, 22, 1953, trang 203-214.

[22] Thanh Lãng, Thử thiết lập hồ sơ về hai người con gái:một con của Phật, một con của chúa, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 6, do Nguyễn Văn Trung tập hợp các bài viết của Thanh Lãng, Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Như Thắng, Nguyễn Nhã, Trần Thái Đỉnh, Trần Thanh Đạm, Hoàng Châu Ký, Nguyễn Lộc, Cao Xuân Hạo, Tài liệu tham khảo, do Trường Đại Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh in năm 1993. Trong cuốn sách này có những bài đáng chú ý: Trích bài Thanh Lãng nghiên cứu đối chiếu truyện Tiêu-du-la (Théodora) của Majorica với Quan Âm Thị Kính; Võ Long Tê giới thiệu Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Majorica. Nguyễn Văn Trung giới thiệu Sấm truyền ca của Lữ Y Doan, và Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm giới thiệu: Phi Năng thi tập, thơ quốc ngữ, của Thánh Phi-Li-Phê Phan Văn Minh.

[23] Nguyễn Huệ Chi Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, (24-4-2002-15-5-2006, in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hoá đến các mã nghê thuật, trang 804-819.

[24] Trích dịch Le dit du Genji (Truyện Genji), bản dịch tiếng Pháp của René Sieffert, nxb Publications Orientalistes de France, 1999, trang 617. Xem bài Từ Murasaki đến Kawabata của Thụy Khuê, trên site: thuykhue.free.fr.

[25] Theo Đào Duy Anh, trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 10.

[26] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 11.

[27] Với Lời phi lộ của tác giả đề viết tại Phi-Năng ngày 25-12- 1842, trích bài Phi Năng Thi tập Thánh Phi-Lip-Phê Phan Văn Minh của Võ Long Tê và Phạm Đình Khiêm, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 89.

[28] Nguyễn Văn Trung, Về một số sách cũ do người công giáo viết ra, từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 3.

[29] Theo Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật), trang 241.

[30] Bản in Nhà Hàng Chiliand et Martiaux, Sài Gòn, 1882, tài liệu Lục Châu Học của Nguyễn Văn Trung.

[31] Nguyễn Văn Trung, lời giới thiệu Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản.

[32] Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 của Đỗ Quang Chính, Tủ sách Ra Khơi, in tại Sài Gòn, năm 1972, Đường Mới chụp và in lại tại Paris, năm 1985, đã dẫn ở trên.

[33] Ngô Đức Thọ, Diễn văn nhận giải thưởng dịch thuật của quỹ Phan Châu Trinh 2014.

[34]Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 21. 


© 2023 Thụy Khuê